TIỂU BỘ

BỔN SANH III – NHÓM LỚN – BÀI 7

▪ 7. MAHĀNĀRADAKASSAPAJĀTAKAṂ – ĐẠI BỔN SANH NĀRADAKASSAPA

544. CHUYỆN BẬC ĐẠI TRÍ MAHÀNÀRADA-KASSAPA (Tiền thân Mahanàrada-Kassapa)

5283. Ahu rājā videhānaṃ aṅgāti nāma khattiyo, pahūtayoggo dhanimā anantabalaporiso.  

5283. Xưa, đức vua của xứ sở Videha là vị Sát-đế-lỵ tên Aṅgāti, có nhiều cỗ xe lớn, có tài sản, có lực lượng quân đội vô số kể.

1. Một vì vua xứ Vi-đề-ha,
Tên gọi An-ga-ti, thuở xưa,
Có lắm cỗ xe, tài sản quý,
Binh hùng tướng mạnh kể sao vừa.

5284. So ca paṇṇarasiṃ rattiṃ purime yāme anāgate, cātumassa komudiyā amacce sannipātayi.  

5284. Và vào đêm rằm Komudī thuộc tháng thứ tư của mùa mưa, khi canh đầu chưa tàn, đức vua đã triệu tập các quan đại thần (gồm có):

2. Một đêm trăng sáng ngày mười lăm,
Canh một sắp qua, ánh nguyệt rằm,
Vào tháng tư mùa mưa mới đến,
Vua liền tụ họp đám quần thần.

5285. Paṇḍite sutasampanne mihitapubbe vicakkhaṇe, vijayañca sunāmañca senāpatimalātakaṃ.

5285. Vijaya, Sunāma, và vị tướng lãnh quân đội Alāta, là các bậc sáng suốt, có nụ cười lúc gặp gỡ, khôn ngoan.

3. Vi-ja-ya, Đại tướng A-là,
Cùng với Đại thần Su-ma-na,
Là các trí nhân, tươi nét mặt,
Đông con kinh nghiệm đủ phò vua.

5286. Tamanupucchi vedeho paccekaṃ brūtha saṃruciṃ,cātumassa komudajja juṇhaṃ vyapagataṃ tamaṃ, kāyajja ratiyā rattiṃ viharemu imaṃ utuṃ.

5286. Đức vua xứ Videha đã hỏi các vị quan đại thần ấy rằng: “Các khanh, từng người một, hãy nói về ý thích của cá nhân. Hôm nay là đêm rằm Komudī thuộc tháng thứ tư của mùa mưa, trăng sáng, bóng tối bị xua tan, chúng ta có thể trải qua đêm ở tiết trời này với sự thích thú sanh lên từ cơ thể.”

4. Vua Vi-đề hỏi chúng triều đình:
Hãy nói ý mình muốn, mỗi khanh,
Nay đúng tháng tư, đêm mãn nguyệt,
Mây mờ không phủ ánh trăng thanh,
Đêm nay ta có gì vui thú,
Tiêu khiển thời giờ ấy thật nhanh?

5287. Tato senāpati rañño alāto etadabravi, haṭṭhaṃ yoggaṃ balaṃ sabbaṃ senaṃ sannāhayāmase.

5287. Sau đó, Alāta, tướng quân của đức vua, đã nói điều này: “Chúng ta hãy vũ trang quân đội để tất cả trở nên hăng hái, thiện chiến, và mạnh mẽ.Lúc ấy Đại tướng Alàtaka tâu với vua: – Tâu Đại vương, ta hãy tập hợp binh hùng tướng mạnh lại, rồi đi chinh chiến cùng với muôn vạn dân chúng, cho phép chúng thần đem đặt dưới quyền Đại vương những vị vua trước đây đã tự trị, đó là thiển ý của thần, xin Đại vương cho phép chúng thần đi chinh phục những vùng đất chưa từng bị chinh phục.

5288. Niyyāma deva yuddhāya anantabalaporisā, ye te vasaṃ na āyanti vasaṃ upanayāmase, esā mayhaṃ sakādiṭṭhi ajitaṃ ojināmase.

5288. Tâu bệ hạ, chúng ta hãy xuất phát lực lượng quân đội vô số kể vào chiến trường. Những kẻ nào không phục tòng quyền lực của bệ hạ, chúng ta hãy khép họ vào quyền lực, chúng ta hãy khuất phục xứ sở chưa được thu phục; điều ấy là quan điểm riêng của hạ thần.”

5289. Alātassa vaco sutvā sunāmo etadabravi, sabbe tuyhaṃ mahārāja amittā vasamāgatā.

5289. Sau khi nghe lời nói của Alāta, vị Sunāma đã nói điều này: “Tâu đại vương, tất cả những kẻ thù đều đã phục tòng quyền lực của bệ hạ. Khi nghe lời của Alàta tâu, Sumàna liền nói: – Tâu Đại vương, các quốc thù của ngài đều đã được tập hợp về đây, họ đã buông khí giới qua một bên và quy hàng Đại vương rồi. Hôm nay là ngày đại lễ hội, thần không thích việc chiến chinh, xin Đại vương ra lệnh mang rượu thịt cùng các loại sơn hào hải vị lên đây ta cùng vui hưởng đờn ca xướng hát.

5290. Nikkhittasatthā paccatthā nivātamanuvattare, uttamo ussavo ajja na yuddhaṃ mama ruccati.

5290. Những kẻ chống lại đã bỏ gươm đao xuống chấp nhận việc đầu hàng. Hôm nay là ngày lễ quan trọng nhất, việc đánh nhau không được thích thú đối với hạ thần.

5291. Annaṃ pānañca khajjañca khippaṃ abhiharantu te, ramassu deva kāmehi naccagīte suvādite.

5291. Hãy cho mọi người cấp tốc mang lại cơm, nước, thức ăn. Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy vui thích với các dục ở điệu vũ, lời ca, và tấu nhạc du dương.”

5292. Sunāmassa vāco sutvā vijayo etadabravi, sabbe kāmā mahārāja niccaṃ tava upaṭṭhitā.

5292. Sau khi nghe lời nói của Sunāma, vị Vijaya đã nói điều này: “Tâu đại vương, tất cả các dục thường xuyên sẵn sàng đối với bệ hạ. Nghe lời Sunàma tâu như vậy, Vijaya liền nói: – Tâu Đại vương, tất cả thú vui dục lạc lúc nào cũng sẵn sàng dâng lên Đại vương, không phải là khó kiếm để làm thỏa lòng Đại vương, nên dù có được những lạc thú ấy, thần cũng không tán đồng. Xin Đại vương ngự xa giá đến hầu thăm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn tinh thông Thánh điển am tường kinh nghĩa, có thể phá tan mọi hoài nghi của chúng thần hôm nay về tâm nguyện của chúng thần.

5293. Na hete dullabhā deva tava kāmehi modituṃ, sadāpi kāmā labbhanti netaṃ cittamataṃ mama.

5293. Tâu bệ hạ, bởi vì các dục ấy không khó đạt được đối với bệ hạ khi bệ hạ có ý muốn vui thích với các dục. Mặc dầu các dục luôn luôn được đạt đến, nhưng điều ấy không phải là suy nghĩ trong tâm của hạ thần.

5294. Samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vāpi upāsemu bahussutaṃ,
yo najja vinaye kaṅkhaṃ atthadhammavidū ise.

5294. Chúng ta nên đi đến hầu cận vị Sa-môn hay là Bà-la-môn có kiến thức rộng, có sự hiểu biết về ý nghĩa và giáo lý, có sự suy xét, là vị có thể xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta trong ngày hôm nay.”

5295. Vijayassa vaco sutvā rājā aṅgātimabravi, yathā vijayo bhaṇati mayhampeteva ruccati.

5295. Sau khi nghe lời nói của Vijaya, đức vua Aṅgāti đã nói rằng: “Giống như Vijaya nói, chính điều này cũng được trẫm thích thú.Khi nghe lời của Vijàya, vua Angati bảo:
– Lời tâu của Vijàya rất hợp ý trẫm, ta hãy cùng đi hầu thăm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào tinh thông Thánh điển, am tường mọi kinh nghĩa để có thể phá tan mối hoài nghi của ta về tâm nguyện hôm nay. Các khanh hãy mau mau thi hành quyết định này, vậy ta hãy đi hầu thăm vị Sư trưởng nào đây?Hôm nay vị nào tinh thông kinh kệ cùng thâm nghĩa của Thánh điển có thể phá tan lưới nghi của ta về các điều tâm nguyện.

5296. Samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vāpi upāsemu bahussutaṃ,
yo najja vinaye kaṅkhaṃ atthadhammavidū ise.

5296. Chúng ta nên đi đến hầu cận vị Sa-môn hay là Bà-la-môn có kiến thức rộng, có sự hiểu biết về ý nghĩa và giáo lý, có sự suy xét, là vị có thể xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta trong ngày hôm nay.

5297. Sabbeva santā karotha matiṃ kaṃ upāsemu paṇḍitaṃ,
ko najja vinaye kaṅkhaṃ atthadhammavidū ise.

5297. Tất cả các khanh đang hiện diện hãy suy nghĩ xem chúng ta nên đi đến hầu cận bậc sáng suốt nào? Vị nào có sự hiểu biết về ý nghĩa và giáo lý, có sự suy xét, có thể xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta trong ngày hôm nay?”

5298. Vedehassa vaco sutvā alāto etadabravi, atthāya migadāyasmiṃ acelo dhīrasammato.

5298. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, vị Alāta đã nói điều này: “Ở Migadāya có vị đạo sĩ lõa thể được công nhận là sáng trí về ý nghĩa.

Khi nghe vua nói vậy, Alàta liền tâu: – Có một vị khổ hạnh lõa thể trú trong vườn Lộc Uyển đằng kia, được mọi người tán thán là bậc hiền nhân,

5299. Guṇo kassapagottāyaṃ suto citrakathī gaṇī, taṃ deva payirupāsaya so no kaṅkhaṃ vinessati.

5299. Vị Guṇa này thuộc dòng họ Kassapa, có kiến thức, có sự thuyết giảng lưu loát, có đồ chúng. Tâu bệ hạ, sau khi đi đến hầu cận vị ấy, vị ấy sẽ xua tan nỗi hoài nghi của chúng ta.”tên gọi Guna dòng Ca-diếp, một bậc thuyết giáo đã lừng danh, có rất đông đệ tử theo học. Vậy ta hãy đến hầu thăm ngài, ngài sẽ phá tan lưới nghi của ta.

5300. Alātassa vaco sutvā rājā codesi sārathiṃ, migadāyaṃ gamissāma yuttaṃ yānaṃ idhānaya.

5300. Sau khi nghe lời nói của vị Alāta, đức vua đã ra lệnh cho người đánh xe: “Chúng ta sẽ đi đến Migadāya. Khanh hãy đưa cỗ xe đã thắng ngựa đến đây.”Nghe lời tâu của Alàta, vua ra lệnh cho quan thủ xa: – Trẫm muốn du hành đến vườn Lộc Uyển, hãy mang xa giá đầy đủ yên cương lại đây.

5301. Tassa yānaṃ ayojesuṃ dantaṃ rūpiyapakkharaṃ, sukkamaṭṭhaparivāraṃ paṇḍaraṃ dosināmukhaṃ.

5301. Bọn họ đã thắng ngựa vào cỗ xe của đức vua được làm bằng ngà voi, có đường viền quanh bằng bạc, có các đồ phụ tùng sạch sẽ bóng láng, có màu trắng tựa như ánh sáng mặt trăng.Khi xa giá đã được chuẩn bị yên cương, trang hoàng đầy đủ ngọc ngà, vàng bạc, cỗ xe vương mã sáng ngời màu bạch ngọc, vẻ tinh khiết như bầu trời đêm quang đãng.

5302. Tatrāsuṃ kumudā yuttā cattāro sindhavā hayā, anilūpamasamuppātā sudantā soṇṇamālino.

5302. Tại nơi ấy, đã có bốn con ngựa dòng Sindhu màu hoa súng trắng, đã được nai nịt, có tốc độ tương tự như làn gió, đã khéo được huấn luyện, có đeo vòng hoa bằng vàng.Bốn tuấn mã giống Sindh trắng như hoa súng đã chầu sẵn, có sức phi nhanh như gió, lại rất thuần thục, mang vòng vàng lục lạc

5303. Setaṃ chattaṃ setaratho setassā setavījanī, vedeho sahamaccehi nīyyaṃ candova sobhatha.

5303. Cỗ xe màu trắng, có chiếc lọng màu trắng, có ngựa màu trắng, có quạt màu trắng. Đức vua xứ Videha, trong khi khởi hành cùng với các quan đại thần, tỏa sáng tựa như mặt trăng.cùng lộng trắng, xe trắng, ngựa trắng và quạt trắng. Đức vua khởi hành cùng đám cận thần, rực rỡ như mặt trăng bạc.

5304. Tamannuyāyuṃ bahavo indakhaggadharā balī, assapiṭṭhigatā dhīrā narā naravarādhipaṃ.

5304. Nhiều người đã đi theo sau vị chúa tể cao quý của loài người, các dũng sĩ mang gươm giáo, các bậc sáng trí ngồi ở lưng ngựa. Nhiều bậc trí giả và dũng sĩ nai nịt cung kiếm lên ngựa theo hầu đức vua anh hùng.

5305. So muhuttaṃ va yāyitvā yānā oruyha khattiyo, vedeho sahamaccehi pattī guṇamupāgami.

5305. Sau khi đã ra đi chỉ trong chốc lát, vị Sát-đế-lỵ xứ Videha ấy đã bước xuống xe, cùng với các quan đại thần đi bộ đến gặp đạo sĩ lõa thể Guṇa.

Sau một đoạn đường dài, trong chốc lát, vua Videha cùng đám cận thần xuống xe, đi bộ đến gần chòi ẩn sĩ Guna;

5306. Yepi tattha tadā āsuṃ brāhmaṇibbhā samāgatā, na te apanayī rājā akaṭaṃ bhūmimāgate.

5306. Tại nơi ấy, vào lúc ấy, các Bà-la-môn và các gia chủ cũng đã tụ hội lại. Đức vua đã không ra lệnh dời đi những người ấy, những người đã đi đến làm cho khu đất không còn chỗ trống.ngay lúc ấy các Bà-la-môn và các phú gia đã tề tựu đông đúc tại đó. Nhà vua cũng không ra lệnh bảo họ lui ra, mặc dù chẳng có chỗ nào dành cho ngài.

5307. Tato so mudukābhisiyā muducittakalandake, mudupaccatthate rājā ekamantaṃ upāvisi.

5307. Sau đó, vị vua ấy đã ngồi xuống một bên, ở chiếc gối mềm, trên tấm nệm nhiều màu sắc mềm mại, ở nơi đã được trải ra bằng tấm thảm mềm.Lúc ấy vua ngồi qua một bên trên một tấm nệm êm ái, bọc bằng da lông sóc mượt mà đủ loại cùng với một chiếc gối dựa mềm mại đặt ngang.

5308. Nisajja rājā sammodi kathaṃ sārāṇiyaṃ tato, kacci yāpanīyaṃ bhante vātānamavisaggatā.

5308. Đức vua đã ngồi xuống, sau đó đã vui vẻ trao đổi lời xã giao thân thiện: “Thưa ngài, phải chăng việc nuôi sống được thuận tiện, (tứ đại được điều hòa) không bị quấy rối bởi các cơn gió?Khi vừa an tọa, vua chào hỏi vị ẩn sĩ bằng những lời tán thán đầy tình thân hữu và cung kính: – Thưa Tôn giả, các nhu cầu về vật thực, y phục của ngài có được đầy đủ chăng? Sinh lực của ngài không bị tiêu hao nhiều chứ?

5309. Kacci akasirā vutti labbhati piṇḍayāpanaṃ, appābādhovasī kacci cakkhuṃ na parihāyati.

5309. Phải chăng cuộc sống không gặp khó khăn, việc chu cấp đồ ăn khất thực nhận được đầy đủ? Phải chăng ngài ít bị bệnh, mắt không bị yếu?”Nếp sống của ngài có dễ chịu chăng? Ngài có được cúng dường đúng thời chăng? Việc đi lại của ngài có gì cản trở chăng? Nhãn quang của ngài vẫn được tinh tường chứ?

5310. Taṃ guṇo paṭisammodi vedehaṃ vinaye rataṃ, yāpanīyaṃ mahārāja sabbametaṃ tadūbhayaṃ.

5310. Vị đạo sĩ lõa thể Guṇa đã vui vẻ đáp lại đức vua xứ Videha ấy, người thích thú trong việc rèn luyện: “Tâu đại vương, việc nuôi sống được thuận tiện, mọi việc ấy, luôn cả hai việc kia (đồ ăn khất thực và thị lực), đều tốt đẹp.

Ẩn sĩ Gunà từ tốn đáp lại vua Videha đang hết sức quan tâm đến phận sự của ngài: – Tâu Đại vương, mọi nhu cầu vật dụng của bần đạo đều được đầy đủ, hai vấn đề ngài nêu sau cùng cũng được như ý.

5311. Kacci tuyhampi vedeha paccantā na balīyare, kacci arogaṃ yoggante kacci vahati vāhanaṃ, kacci te vyādhayo natthi sarīrassupatāpikā.  

5311. Tâu đức vua xứ Videha, phải chăng các xứ lân bang của bệ hạ không gia tăng binh lực? Phải chăng bầy thú kéo xe của bệ hạ không có bệnh? Và phải chăng cỗ xe hoạt động tốt? Phải chăng các bệnh của bệ hạ không gây sự khó chịu ở cơ thể?”Còn phần Đại vương, các vị quốc vương lân cận không quá hùng mạnh đối với Đại vương chứ? Đại vương có được ngọc thể khang an chăng? Vương xa của Đại vương thượng lộ bình an chứ? Đại vương không bị bệnh tật gì não hại chứ?

5312. Paṭisammodito rājā tato pucchi anantarā, atthaṃ dhammañca ñāyañca dhammakāmo rathesabho.  

5312. Được vui vẻ đáp lại, đức vua, đấng thủ lãnh xa binh, có lòng mong mỏi giáo pháp, khi ấy, đã không ngừng hỏi về ý nghĩa, về giáo lý, và về cách thức ứng xử rằng:Vua mong cầu pháp lành nên sau khi được vấn an xong, ngài liền hỏi vị ẩn sĩ ý nghĩa và giáo pháp cùng giới luật công hạnh:

5313. Kathaṃ dhammaṃ care macco mātāpitusu kassapa,
kathaṃ care ācariye puttadāre kathaṃ care.
 

5313. “Thưa ngài Kassapa, con người nên thực hành đúng pháp đối với mẹ cha như thế nào? Nên thực hành đối với thầy dạy học như thế nào? Nên thực hành đối với vợ con như thế nào?– Thưa Tôn giả Ca-diếp, một thế nhân phải cư xử như thế nào gọi là đúng pháp đối với cha mẹ, đối với sư trưởng, đối với vợ con?

5314. Kathaṃ careyya vuddhesu kathaṃ samaṇabrāhmaṇe, kathañca balakāyasmiṃ kathaṃ jānapade care.  

5314. Nên thực hành đối với các bậc trưởng thượng như thế nào? Đối với các Sa-môn và Bà-la-môn như thế nào? Và đối với binh lính như thế nào? Nên thực hành đối với dân chúng như thế nào?Còn phải cư xử ra sao đối với các bậc trưởng lão, các Sa-môn, Bà-la-môn, với binh sĩ cùng dân chúng trong quốc độ mình?

5315. Kathaṃ dhammaṃ caritvāna pecca gacchati suggatiṃ, kathañceke adhammaṭṭhā patanti nirayaṃ adho.  

5315. Người thực hành đúng pháp sau khi chết đi đến cảnh giới an vui như thế nào? Và một số người duy trì sai pháp rơi xuống địa ngục như thế nào?”Làm thế nào để hành trì đúng pháp rồi chung cuộc được lên Thiên giới? Và một số thế nhân vì theo tà pháp đã đọa địa ngục như thế nào?

5316. Vedehassa vaco sutvā kassapo etadabravi, suṇohi me mahārāja saccaṃ avitathaṃ padaṃ.  

5316. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, vị đạo sĩ lõa thể Kassapa đã nói điều này: “Tâu đại vương, xin ngài hãy lắng nghe lời nói chân thật, không sái quấy của ta.Khi nghe vua Videha hỏi, Kassapa trả lời: – Tâu Đại vương, đây là chân lý không sai lạc:

5317. Natthi dhammassa ciṇṇassa phalaṃ kalyāṇapāpakaṃ, natthi deva paro loko ko tato hi idhāgato.

5317. Không có quả báo thiện ác cho người đã thực hành pháp. Tâu bệ hạ, không có đời sau, bởi vì người nào từ nơi ấy đi đến nơi này?

Không có quả báo thiện hay ác nào khi ta tuân giới luật, không có đời sau, tâu Đại vương còn ai trở lại đời này sau khi mạng chung nữa?

5318. Natthi deva pitaro vā kuto mātā kuto pitā, natthi ācariyo nāma adantaṃ ko damessati.

5318. Tâu bệ hạ, không có ông bà; từ đâu có mẹ, từ đâu có cha? Không có người gọi là thầy; ai sẽ thuần hóa kẻ không được thuần hóa?Không có tổ tiên cha mẹ, làm sao có cha hay mẹ được? Không có sư trưởng, vì ai có khả năng giáo hóa những pháp không thể được giáo hóa?

5319. Samatulyāni bhūtāni natthi jeṭṭhāpacāyino, natthi balaṃ vā viriyaṃ vā kuto uṭṭhānaporisaṃ, niyatāni hi bhūtāni yathā goṭaviso tathā.

5319. Các sinh linh đều bình đẳng và tương đương nhau, không có sự tôn kính người lớn hơn, không có sức mạnh hoặc sự tinh tấn, từ đâu có sự vươn lên của loài người? Bởi vì các sinh linh (có số phận) đã được định sẵn, giống như bánh lái của chiếc tàu (lèo lái chiếc tàu).Mọi thế nhân đều bình đẳng và giống nhau, không có kẻ nào đáng được kính lễ cũng không có kẻ nào phải kính lễ người khác, không có các đức tính như dũng mãnh hoặc can trường vì ở đời làm sao có được tinh tấn lực hay tính anh hùng? Số phận các thế nhân đã được tiền định, cũng như đuôi con tàu phải đi theo dấu con tàu vậy.

5320. Laddheyyaṃ labhate macco tattha dānaphalaṃ kuto, natthi dānaphalaṃ deva avaso deva vīriyo.

5320. Con người thọ nhận phần phải thọ nhận; trong trường hợp ấy, quả báo của bố thí từ đâu có? Tâu bệ hạ, không có quả báo của bố thí. Tâu bệ hạ, sự tinh tấn không có năng lực. Mỗi thế nhân được thọ hưởng phần mình phải thọ hưởng, thế thì bố thí để làm gì? Tâu Đại vương, việc bố thí không ích lợi gì cả.

5321. Bālehi dānaṃ paññattaṃ paṇḍitehi paṭicchitaṃ, avasā denti dhīrānaṃ bālā paṇḍitamānino.

5321. Vật bố thí được trao ra bởi các kẻ ngu và được tiếp nhận bởi các bậc trí. Những kẻ ngu, không có quyền thế, bố thí đến các bậc trí, có ý nghĩ mình là người sáng suốt.

Người bố thí là kẻ yếu hèn, chẳng ai giúp đỡ, lễ vật bố thí được kẻ ngu ngốc đưa ra và được kẻ không nhận lấy. Những kẻ vô trí, yếu hèn lại tưởng mình khôn ngoan khi bố thí cho kẻ có trí.

5322. Sattime sassatā kāyā acchejjā avikopino, tejo paṭhavirāpo ca vāyo sukhadukhañcime, jīve ca sattime kāyā yesaṃ chettā na vijjati.  

5322. Bảy uẩn này là trường tồn, không thể bị phá vỡ, không có sự xáo trộn. Bảy uẩn này là: lửa, đất, nước, gió, lạc, khổ, và sự sống. Tác nhân phá vỡ chúng không hiện hữu.– Có bảy uẩn không bị hủy diệt cũng không não hại, đó là hỏa, địa, thủy, không, lạc, khổ và tâm. Trong bảy uẩn này chẳng có uẩn nào đủ công năng tiêu hủy hay phân tán.

5323. Natthi hantā vā chettā vā haññare vāpi koci naṃ, antareneva kāyānaṃ satthāni vītivattare.  

5323. Không có tác nhân nào tiêu diệt hoặc phá vỡ được chúng, hoặc chúng tự bị tiêu diệt, dầu chỉ là một uẩn nào đó. Các gươm đao xuyên qua ngay ở khoảng giữa của các uẩn.Chúng cũng không hề bị phân hủy, gươm giáo đều vô hại đối với các uẩn này.

5324. Yopāyaṃ siramādāya paresaṃ nisitāsinā, na so chindati te kāye tattha pāpaphalaṃ kuto.  

5324. Kẻ nào mặc dầu đã nắm lấy và chặt đứt cái đầu của những người khác bằng cây gươm bén, cũng không cắt đứt được các uẩn ấy; trong trường hợp ấy, quả báo của tội ác từ đâu có? Kẻ nào cắt đầu kẻ khác bằng thanh kiếm sắc bén cũng không thể phân tán các uẩn này, thế thì làm sao lại có thể hưởng được nghiệp quả vì làm ác nghiệp?

5325. Cullāsīti māhākappe sabbe sujjhanti saṃsaraṃ, anāgate tamhi kāle saññatopi na sujjhati.  

5325. Tất cả được trong sạch trong khi luân hồi tám mươi bốn đại kiếp. Khi thời gian ấy chưa được trải qua, kẻ đã tự kiềm chế cũng không được trong sạch. Mọi chúng sanh đều được sạch tội lỗi khi đã sống qua tám mươi bốn đại kiếp, trước thời kỳ đó chẳng có một người Phạm hạnh nào được rửa sạch tội lỗi cả.

5326. Caritvāpi bahuṃ bhadraṃ neva sujjhanti nāgate, pāpaṃ cepi bahuṃ katvā taṃ khaṇaṃ nātivattare.  

5326. Dầu đã thực hành nhiều điều tốt đẹp, họ vẫn không được trong sạch khi thời hạn chưa đến. Dầu cho đã làm nhiều việc ác, họ cũng không vượt quá thời hạn ấy. Trước khi thời kỳ đó đến, dù họ thực hành giới hạnh bao nhiêu đi nữa, họ cũng không thể rửa sạch tội lỗi, và dù họ phạm bao nhiêu tội chướng đi nữa, họ cũng không thể vượt quá giới hạn đó.

5327. Anupubbena no suddhi kappānaṃ cullasītiyā, niyatiṃ nātivattāma velantamiva sāgaro.

5327. Sự trong sạch của chúng ta sẽ theo tuần tự trải qua tám mươi bốn kiếp. Chúng ta không vượt qua được số phận (đã ấn định), tựa như biển cả không vượt qua giới hạn của bờ cát.”

Lần lượt con người sẽ được rửa sạch tội qua tám mươi bốn kiếp; ta không thể vượt quá số phận ta, cũng như biển không thể vượt bờ.

5328. Kassapassa vaco sutvā alāto etadabravi, yathā bhadanto bhaṇati mayhaṃpeteva ruccati.

5328. Sau khi nghe lời nói của đạo sĩ lõa thể Kassapa, Alāta đã nói điều này: “Giống như lời đại đức nói, chính điều này cũng được tôi thích thú. Khi nghe Kassapa nói vậy, Alàta đáp lời: – Những điều Tôn giả nói rất hợp ý ta,

5329. Ahaṃpi purimaṃ jātiṃ sare saṃsaritattano, piṅgalo nāmahaṃ āsiṃ luddo goghātako pure.

5329. Tôi cũng nhớ lại việc đã bị luân hồi của bản thân ở kiếp sống trước đây. Tôi đã là gã thợ săn, kẻ giết trâu bò, tên Piṅgala ở tại thành phố.ta cũng nhớ lại đã trải qua một tiền kiếp: Ta là một thợ săn bò tên là Pingala ở một tỉnh thành kia.

5330. Bārāṇasiyaṃ phītāya bahuṃ pāpaṃ kataṃ mayā, bahū mayhaṃ hatā pāṇā mahisā sūkarā ajā.

5330. Ở trong thành Bārāṇasī phồn thịnh, tôi cũng đã làm nhiều tội ác. Tôi đã giết chết nhiều mạng sống: trâu, heo, dê.Ta đã phạm bao nhiêu tội lỗi ở thành Ba-la-nại giàu có ấy. Ta đã giết biết bao nhiêu sinh mạng bò, heo, trâu, dê.

5331. Tato cuto idha jāto iddhe senāpatikule, natthi nūna phalaṃ pāpe sohaṃ na nirayaṃ gato.

5331. Từ nơi ấy chết đi, tôi đã được sanh ra ở nơi này, trong gia tộc giàu có của vị tướng lãnh quân đội. Đương nhiên không có quả báo ở tội ác, tôi đây đã không đi đến địa ngục.”Hết kiếp đó, ta lại sinh vào gia đình phồn thịnh của một viên đại tướng; như thế không hề có quả ác vì hành nghiệp ác nên ta đã không đọa vào địa ngục.

5332. Athettha bījako nāma dāso āsi paḷaccarī, uposathaṃ upavasanto guṇasantikupāgami.

5332. Khi ấy, tại nơi này, có gã nô lệ tên Bījaka nghèo khó, khốn khổ. Trong khi hành trì ngày trai giới, gã đã đi đến nơi ở của đạo sĩ lõa thể Guṇa.

Lúc ấy có một tên nô lệ ăn mặc rách rưới tên là Bìjaka đang hành trì trai giới cũng đến đây nghe Guna thuyết pháp.

5333. Kassapassa vaco sutvā alātassa ca bhāsitaṃ, passasanto muhuṃ uṇhaṃ rudaṃ assūni vattayi.  

5333. Sau khi nghe lời nói của đạo sĩ lõa thể Kassapa và lời đáp lại của Alāta, trong khi liên tiếp thở dài bực bội, trong khi khóc lóc, gã đã để trào ra những giọt nước mắt. Khi nghe Kassapa và Alàta đối đáp như vậy, gã thở dài não nuột và bật khóc.

5334. Tamanupucchi vedeho kimatthaṃ samma rodasi, kinte sutaṃ vā diṭṭhaṃ vā kiṃ maṃ vedesi vedanaṃ. 

5334. Đức vua xứ Videha đã hỏi gã ấy rằng: “Này khanh, vì lý do gì mà ngươi khóc lóc? Điều gì đã được ngươi nghe hoặc thấy? Ngươi hãy cho trẫm biết cảm thọ ra sao?”Vua hỏi: – Tại sao người khóc? Ngươi đã nghe thấy gì chăng? Tại sao ngươi lộ vẻ đau khổ với ta như vậy?

5335. Vedehassa vaco sutvā bījako etadabravi, natthi me vedanā dukkhā mahārāja suṇohi me.  

5335. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, Bījaka đã nói điều này: “Không có cảm thọ khổ đau đối với thần. Tâu đại vương, xin ngài hãy lắng nghe thần.Bìjaka trả lời: – Tâu Đại vương, tiểu nô chẳng có gì làm khổ đâu, xin Đại vương hãy nghe tiểu nô giải bày.

5336. Ahampi purimaṃ jātiṃ sarāmi sukhamattano, sāketāhaṃ pure āsiṃ bhāvaseṭṭhi guṇe rato.  

5336. Thần cũng nhớ lại sự sung sướng của bản thân ở kiếp sống trước đây. Thần đã là triệu phú gia Bhāvaseṭṭhi ở thành Sāketa, thích thú trong việc công đức.Tiểu nô cũng nhớ lại tiền kiếp rất được sung sướng, tiểu nô là một Bhavasetthi (phú thương) trong thành Sàketa, chuyên trì công đức,

5337. Sammato brāhmaṇibbhānaṃ saṃvibhāgarato suci, na cāpi pāpakaṃ kammaṃ sarāmi katamattano.  

5337. Thần trong sạch, thích thú việc san sẻ, được các vị Bà-la-môn và các phú gia ca ngợi. Thần nhớ lại bản thân cũng đã không làm nghiệp ác.giữ thân trong sạch hay bố thí, được các Bà-la-môn và các phú gia rất quý trọng.

5338. Tato cutāhaṃ vedeha idha jāto duritthiyā, gabbhamhi kumbhadāsiyā yato jāto suduggato.  

5338. Từ nơi ấy chết đi, tâu đức vua xứ Videha, thần đã bị sanh vào bào thai của một phụ nữ nghèo khổ là người nữ tỳ đội nước. Từ khi được sanh ra, thần đã lâm cảnh vô cùng khó khăn. Tiểu nô nhớ lại mình chẳng hề phạm tội ác bao giờ. Nhưng khi hết kiếp ấy, tiểu nô lại đầu thai vào bụng một gái giang hồ nghèo khó và ra đời chịu rất nhiều cực khổ.

5339. Evampi duggato santo samacariyaṃ adhiṭṭhito, upaḍḍhabhāgaṃ bhattassa dadāmi yo me icchati.  

5339. Mặc dầu bị lâm cảnh khó khăn như vậy, thần đã quyết tâm hạnh sống bình đẳng. Thần bố thí một nửa phần bữa ăn của thần đến người nào thích.

Tuy nhiên dù khổ cực như hiện nay, tiểu nô vẫn giữ tâm trí thanh tịnh, tiểu nô nhường phân nửa thức ăn cho kẻ nào cần thực phẩm.

5340. Cātuddasiṃ pañcadasiṃ sadā upavasāmahaṃ, na cāpi bhūte hiṃsāmi theyyañcāpi vivajjayiṃ.

5340. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, thần luôn luôn hành trì trai giới. Thần cũng không hãm hại các sanh linh và cũng đã lánh xa việc trộm cắp. Tiểu nô giữ trai giới các ngày mười bốn và rằm, chẳng hề sát sanh trộm cắp.

5341. Sabbameva hi nūnetaṃ suciṇṇaṃ bhavati nipphalaṃ, niratthaṃ maññidaṃ sīlaṃ alāto yatha bhāsati.

5341. Bởi vì, chắc chắn rằng toàn bộ tất cả việc thực hành tốt đẹp ấy là không có quả báo. Thần nghĩ rằng giới hạnh này không có lợi ích, giống như tướng quân Alāta nói.Nhưng tất cả những điều lành đó không đem lại quả tốt nào như Alàta vừa nói, tiểu nô cho rằng công đức thật chẳng ích gì.

5342. Kalimeva nūna gaṇhāmi asippo dhuttako yathā, kaṭaṃ alāto gaṇhāti kitavo sikkhito yathā.

5342. Có lẽ thần gặp phải vận xấu, giống như kẻ bịp bợm không rành nghề. Còn tướng quân Alāta nắm được sự may mắn, giống như kẻ chơi trò đổ xúc xắc đã được huấn luyện.Tiểu nô thua cuộc trong đời như kẻ chơi súc sắc bất tài, còn Alàta thắng cuộc như một kẻ đánh súc sắc khéo tay.

5343. Dvāraṃ nappatipassāmi yena gacchāmi suggatiṃ, tasmā rāja parodāmi sutvā kassapabhāsitaṃ.

5343. Thần không nhìn thấy cánh cửa để thần đi đến cảnh giới an vui. Vì thế, tâu bệ hạ, thần bật khóc sau khi nghe lời nói của vị đạo sĩ lõa thể Kassapa.” Tiểu nô không có cách nào lên thiên giới cả, vì thế tiểu nô rơi lệ khi nghe ngài Ca-diếp nói pháp.

5344. Bījakassa vāco sutvā rājā aṅgātimabravi, natthi dvāraṃ sugatiyā niyatiṃ kaṅkha bījaka.

5344. Sau khi nghe lời nói của Bījaka, đức vua Aṅgāti đã nói rằng: “Không có cánh cửa vào cảnh giới an vui, này Bījaka, ngươi hãy trông chờ số phận.

Sau khi nghe Bìjaka nói vậy, vua Angati đáp: – Không có lối lên thiên đàng, chỉ đợi chờ số phận.

5345. Sukhaṃ vā yadi vā dukkhaṃ niyatiyā kira labbhati, saṃsārasuddhi sabbesaṃ mā turittho anāgate.  

5345. Thật vậy, con người được nhận lãnh hạnh phúc hay khổ đau là do số phận. Tất cả đều có sự thanh tịnh thông qua luân hồi. Các khanh chớ vội vã về tương lai.Số người sướng hay khổ là do số phận định đoạt. Chung cuộc mọi chúng sinh sẽ được giải thoát khỏi luân hồi, vậy đừng nóng lòng vì tương lai.

5346. Ahampi pubbe kalyāṇe brāhmaṇibbhesu vyāvaṭo, vohāramanusāsanto ratihīno tadantarā.  

5346. Trước đây, trẫm cũng đã bị bận rộn về việc thiện, về các vị Bà-la-môn và các phú gia. Trong khi chỉ bảo việc phán xử, trẫm đã bỏ bê khoái lạc trong khoảng thời gian ấy. Trong các đời trước của ta, ta cũng đã được nhiều phước phần và chuyên tâm phụng sự các Bà-la-môn cùng các phú gia, nhưng lúc ta bận chấp chánh trị dân, ta lại không được hưởng lạc gì cả.

5347. Punapi bhante dakkhemu saṅgati ce bhavissati,
idaṃ vatvāna vedeho paccagā sanivesanaṃ.  

5347. Thưa ngài đạo sĩ, chúng ta cũng có thể gặp lại nếu có sự gặp gỡ.” Nói xong lời này, đức vua xứ Videha đã quay về lại chỗ trú ngụ của mình.Thưa Tôn giả Kassapa, trẫm xin từ tạ Tôn giả, ta sẽ còn dịp hội ngộ ngày sau.” Nói xong vua Videha trở về cung.

5348. Tato ratyā vivasane upaṭṭhānamhi aṅgati, amacce sannipātetvā idaṃ vacanamabravi.  

5348. Sau đó, vào cuối đêm, đức vua Aṅgāti đã triệu tập các quan đại thần ở phòng hội và đã nói lời nói này: Qua đêm đó, rạng ngày mai, vua Angàti triệu tập các vị đại thần lại và phán:

5349. Candake me vimānasmiṃ sadā kāme vidhentu me, māmūpagacchuṃ atthesu guyhappākāsiyesu ca.

5349. “Tại cung điện Candaka của trẫm, hãy để bọn họ luôn luôn cung cấp các dục cho trẫm. Và chớ để bọn họ đi đến về các việc riêng hay việc công.– Các khanh cho bày đủ mọi thứ dục lạc trong điện Candaka để trẫm an hưởng, không ai được dâng sớ về việc công tư gì nữa.

5350. Vijayo ca sunāmo ca senāpati alātako, ete atthe nisīdantu vohārakusalā tayo.

5350. Vijaya, Sunāma, và vị tướng lãnh quân đội Alāta, ba vị đều thiện xảo về việc phán xử. Hãy để các vị ngồi giải quyết các công việc này.”Các khanhVijaya, Sunàma và đại tướng Alàtaka đều tinh thông luật pháp, hãy ngồi xét xử mọi vấn đề thay trẫm.

5351. Idaṃ vatvāna vedeho kāme ca bahumaññatha, na cāpi brāhmaṇibbheṣu atthe kismiñci vyāvaṭo.

5351. Sau khi nói điều ấy, đức vua xứ Videha đã suy nghĩ nhiều về các dục, và không bị bận rộn về bất cứ công việc nào, cũng như về các vị Bà-la-môn và các phú gia nữa. 

Vua nói thế xong, chẳng còn bận tâm điều gì nữa ngoài dục lạc và ngài cũng chẳng còn thân cận với các Bà-la-môn cùng các phú gia nữa.

5352. Tato dve sattarattassa vedehassatrajā piyā, rājakaññā rujā nāma dhātimātaramabravi.

5352. Sau đó, vào đêm mười bốn, người con gái ruột yêu quý của đức vua xứ Videha, công chúa tên Rujā, đã nói với người nhũ mẫu rằng:Thế rồi vào đêm mười bốn, ái nữ của vua, công chúa Rujà, nói với bà nhũ mẫu:

5353. Alaṅkarotha maṃ khippaṃ sakhiyo ca karontu me, suve paṇṇaraso dibbo gacchaṃ issarasantike.

5353. “Hãy mau chóng trang điểm cho con. Và hãy bảo các nữ tỳ của con làm việc. Ngày mai là ngày mười lăm, ngày của chư Thiên, con có thể đi đến gặp vua cha.”– Xin nhũ mẫu trang sức ngọc vàng cho con thật nhanh, bảo các thị nữ đến hầu con ngày mai là ngày lễ rằm, con sẽ đi yết kiến phụ vương.

5354. Tassā mālyaṃ abhihariṃsu candanañca mahārahaṃ, maṇisaṅkhamuttaratanaṃ nānāratte ca ambare.

5354. Các nàng đã mang lại tràng hoa và trầm hương có giá trị cao, ngọc ma-ni, xà cừ, ngọc trai, ngọc quý, và các tấm vải có màu sắc khác nhau.Họ liền đem cho nàng một tràng hoa cùng gỗ đàn hương, ngọc ngà châu báu đủ loại và xiêm y lộng lẫy muôn màu,

5355. Tañca sovaṇṇaye pīṭhe nisinnaṃ bahukitthiyo, parikiriya asobhiṃsu rujaṃ ruciravaṇṇiniṃ.

5355. Công chúa Rujā có sắc đẹp quyến rũ ấy đã ngồi xuống ở chiếc ghế làm bằng vàng. Nhiều người phụ nữ đã vây quanh và làm cho nàng chói sáng.nhiều thị nữ vây quanh nàng lúc nàng ngồi trên chiếc kim đôn, trang sức cho nàng cực kỳ rực rỡ tôn vẻ kiều diễm của nàng.

5356. Sā ca sakhīmajjhagatā sabbābharaṇabhūsitā, sateratā abbhamiva candakaṃ pāvisī rujā.

5356. Và nàng Rujā ấy, được tô điểm với mọi thứ trang sức, đi ở giữa các nữ tỳ, đã tiến vào cung điện Candaka, tựa như tia chớp ở bầu trời.

Sau đó được đoàn thị nữ tháp tùng chung quanh, sáng ngời trong các món trang sức trân bảo, công chúa Rujà bước vào cung Candaka như tia chớp lóe giữa vầng mây.

5357. Upasaṅkamitvā vedehaṃ vanditvā vinaye ratā, suvaṇṇavikate pīṭhe ekamantaṃ upāvisi.

5357. Sau khi đi đến gần, công chúa Rujā, thích thú trong việc rèn luyện, đã đảnh lễ đức vua xứ Videha, rồi ngồi xuống một bên, ở chiếc ghế được khảm vàng.Sau khi đến gần phụ vương đảnh lễ hết sức cung kính xong, nàng ngồi xuồng một bên trên chiếc bảo tọa chạm vàng.

5358. Tañca disvāna vedeho accharānaṃva saṅgamaṃ, rujaṃ sakhimajjhagataṃ idaṃ vacanamabravi.  

5358. Và sau khi nhìn thấy công chúa Rujā ấy đứng ở giữa các nữ tỳ, tựa như cuộc hội họp của các tiên nữ, đức vua xứ Videha đã nói lời nói này: Khi vua thấy nàng được đám cung nữ theo hầu như một bầy tiên nữ, liền phán bảo:

5359. Kacci ramasi pāsāde anto pokkharaṇiṃ pati, kacci bahuvidhaṃ khajjaṃ sadā abhiharanti te.

5359. “Phải chăng con ưa thích hồ nước ở bên trong tòa lâu đài? Phải chăng thức ăn nhiều loại luôn luôn được mang đến cho con? – Này công chúa, con có vui chơi thỏa thích trong hồ nước nội cung chăng? Chúng có thường dâng con đủ loại cao lương mỹ vị chăng?

5360. Kacci bahuvidhaṃ mālyaṃ ocinitvā kumāriyo, gharake karotha paccekaṃ khiḍḍhāratiratā muhuṃ.

5360. Phải chăng những thiếu nữ các nàng thường hay ưa thích vui chơi đùa giỡn, đã thu thập tràng hoa nhiều loại rồi làm các căn nhà nhỏ riêng biệt?Con cùng các thị nữ có thường kết đủ loại tràng hoa và xây nhà mát để chúng con nghỉ ngơi, vui đùa giải trí chăng?

5361. Kena vā vikalaṃ tuyhaṃ khippaṃ abhiharantu te, mano karassu kuḍḍamukhī api candasamamhipi.

5361. Hay là con thiếu thốn thứ gì? Hãy bảo bọn họ cấp tốc mang lại. Này cô gái có khuôn mặt trong  sáng, con hãy suy nghĩ đi, cho dầu là vật khó khăn giống như mặt trăng.”Bảo chúng đem lại đây ngay, con hãy thỉnh cầu phụ vương mọi điều con ưa thích, những điều gay go nhất, dù có khó như tìm mặt trăng đi nữa.

5362. Vedehassa vaco sutvā rujā pitaramabravi, sabbametaṃ mahārāja labbhatissarasantike.

5362. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, công chúa Rujā đã nói với vua cha rằng: “Tâu đại vương, ở cạnh vị chúa tể, tất cả mọi thứ ấy đều được chu cấp.Nghe vua cha nói như vậy, công chúa thưa: – Tâu phụ vương, trước long nhan, mọi nguyện vọng của tiện nữ đều được thỏa mãn.

5363. Suve paṇṇaraso dibbo sahassaṃ āharantu me, yathādinnañca dassāmi dānaṃ sabbavaṇīsu ’haṃ.

5363. Ngày mai là ngày mười lăm, ngày của chư Thiên, hãy bảo bọn họ mang lại cho con một ngàn. Và với số tiền đã được cha cho, con sẽ ban bố vật thí đến những người hành khất.”Ngày mai là ngày lễ rằm, xin phụ vương ban cho con một ngàn đồng tiền để con bố thí cho các kẻ hành khất.

5364. Rujāya vacanaṃ sutvā rājā aṅgātimabravi, bahuṃ vināsitaṃ vittaṃ niratthaṃ aphalaṃ tayā.

5364. Sau khi nghe lời nói của công chúa Rujā, đức vua Aṅgāti đã nói rằng: “Nhiều của cải bị tiêu tan không có lợi ích, không có quả báo do con.

Nghe Rujà nói, vua liền đáp: – Con đã phung phí nhiều của cải mà chẳng có kết quả gì,

5365. Uposathaṃ vasaṃ niccaṃ annapānaṃ na bhuñjasi, niyatetaṃ abhuttabbaṃ natthi puññaṃ abhuñjato.

5365. Trong khi hành trì ngày trai giới, con thường xuyên không thọ dụng cơm nước. Việc ấy là số phận, là không có thể thọ dụng. Không có phước báu cho người không thọ dụng.con giữ gìn trai giới, kiêng cử ăn uống, nhưng quan niệm về phận sự giữ gìn trai giới này đều do tiền định, cho nên con có giữ gìn trai giới cũng không đạt công hạnh gì.

5366. Bījakopi hi sutvāna tadā kassapabhāsitaṃ, passasanto muhuṃ uṇhaṃ rudaṃ assūni vattayi.

5366. Bởi vì, ngay cả Bījaka, vào lúc ấy, sau khi nghe lời nói của đạo sĩ lõa thể Kassapa, trong khi liên tiếp thở dài bực bội, trong khi khóc lóc, đã để trào ra những giọt nước mắt.

5367. Yāva ruje jīvasi no mā bhattamapanāmayi, natthi bhadde paro loko kiṃ niratthaṃ vihaññasi.

5367. Này Rujā, cho đến khi nào con còn sống giữa chúng ta, chớ từ chối bữa ăn. Này con gái ngoan, không có đời sau, tại sao con lại khổ nhọc với việc không có lợi ích?”Trong lúc con còn sống đây với phụ vương, con đừng bố thí vật thực nữa, không hề có đời sau nào ngoài đời này nữa, tại sao con phải bận tâm vì việc không đâu?

5368. Vedehassa vaco sutvā rujā ruciravaṇṇinī, jānaṃ pubbāparaṃ dhammaṃ pitaraṃ etadabravi.

5368. Sau khi nghe lời nói của đức vua xứ Videha, công chúa Rujā, có sắc đẹp quyến rũ, biết được sự việc quá khứ và vị lai, đã nói với vua cha điều này:

Lúc ấy Rujà với nhan sắc cực kỳ lộng lẫy, nghe vua cha nói vậy liền đáp như sau, vì biết rằng nàng hiểu Pháp lành ở đời quá khứ cùng vị lai:

5369. Sutameva me pure āsi sakkhi diṭṭhamidaṃ mayā, bālūpasevī yo hoti bālova samapajjatha.  

5369. “Điều này trước đây con đã được nghe và con đã được nhìn thấy tận mắt rằng: Người nào có sự thân cận với trẻ con thì trở nên giống như trẻ con. – Tâu phụ vương, tiện nữ đã được nghe trong thuở quá khứ cũng như chính mắt tiện nữ được thấy rằng kẻ nào bầu bạn với trẻ thơ rồi cũng trở thành trẻ thơ mà thôi.

5370. Mūḷho hi mūḷhamāgamma bhiyyo mohaṃ nigacchati, patirūpaṃ alātena bījakena ca muyhituṃ.  

5370. Thật vậy, kẻ ngu muội đi đến với kẻ ngu muội càng trở nên ngu si nhiều hơn. Alāta và Bījaka là thích đáng để bị trở thành ngu muội.Kẻ ngu thân cận với kẻ ngu lại càng chìm đắm trong sự ngu muội. Alàtaka và Bìjaka bị lừa phỉnh là phải lắm,

5371. Tvañca deva sappañño dhīro atthassa kovido, kathaṃ bālehi sadisaṃ hīnaṃ diṭṭhiṃ upāgami.  

5371. Nhưng tâu bệ hạ, phụ vương là người có trí tuệ, thông minh, rành rẽ về điều lợi ích, tại sao phụ vương lại đi theo tà kiến thấp kém, như là những đứa trẻ con?chứ còn phụ vương là một vị vua hiền trí, rất có tài trong việc trị dân; làm sao phụ vương lại rơi vào một lý thuyết thấp hèn như vậy, chỉ xứng hợp với trẻ thơ.

5372. Sace hi saṃsārapathena sujjhati niratthiyā pabbajjā guṇassa, kīṭova aggiṃ jalitaṃ apāpataṃ uppajjati momūho naggabhāvaṃ.

5372. Bởi vì, nếu một người được trong sạch thông qua con đường luân hồi, thì việc xuất gia của đạo sĩ lõa thể Guṇa là không có lợi ích. Kẻ ngu muội tìm đến trạng thái lõa thể, tựa như con thiêu thân đang lao vào ngọn lửa cháy sáng.Nếu con người được rửa sạch mọi tội chướng chỉ do dòng sinh tử thì việc tu khổ hạnh của Guna thật là hoài công, như con thiêu thân lao vào đèn sáng, kẻ ngu ngốc kia đã chịu đựng đời hành khất lõa thể.

5373. Saṃsārasuddhīti pure niviṭṭhā kammaṃ vidūsenti bahū ajānaṃ, pubbe kalī duggahitova atthā dummocayā balisā ambujova.

5373. Có nhiều kẻ trước đây tin vào tà kiến ‘có sự thanh tịnh thông qua luân hồi,’ rồi trở nên tồi bại ở hành động không có ý thức. Vận xấu trong quá khứ đã bị chúng bám víu một cách sai trái, khó thoát ra được, tựa như con cá nuốt phải mồi câu khó thoát khỏi lưỡi câu. Sau khi đã chấp nhận lý thuyết cho rằng kết cuộc mọi chúng sinh sẽ được rửa sạch mọi tội lỗi qua luân hồi sinh tử, nhiều kẻ đã hành động sai lầm vì vô minh chồng chất, nên lại càng bị vây chặt hơn trong các nghiệp quả đời trước, khó thoát ra được, như con cá mắc lưỡi câu.

5374. Upamaṃ te karissāmi mahārāja tavatthiyā, upamāyapidhekacce atthaṃ jānanti paṇḍitā.

5374. Tâu đại vương, vì lợi ích của phụ thân, con sẽ nêu ví dụ cho phụ thân rõ. Trong trường hợp này, một số bậc sáng suốt hiểu được ý nghĩa thông qua ví dụ.

Tiện nữ xin kể hầu phụ vương một chuyện ngụ ngôn cho trường hợp này của phụ vương, vì bậc trí giả đôi khi tìm được chân lý qua câu chuyện ngụ ngôn.

5375. Vāṇijānaṃ yathā nāvā appamāṇaharā garu, atibhāraṃ samādāya aṇṇave avasīdati.

5375. Giống như chiếc thuyền của các thương buôn chuyên chở không hạn lượng, trở nên nặng nề; mang theo quá tải, con thuyền chìm xuống biển.Như một con tàu của thương nhân, chở quá nhiều hành lý nặng nề, phải chìm trong biển cả,

5376. Evameva naro pāpaṃ thokathokampi ācinaṃ, atibhāraṃ samādāya niraye avasīdati.

5376. Tương tự y như vậy, con người tích lũy việc ác từng chút từng chút một; sau khi mang theo quá nhiều tội ác, người ấy đọa vào địa ngục. một con người chồng chất dần tội lỗi mãi cũng sẽ đọa vào địa ngục.

5377. Na tāva bhāro paripūro alātassa mahīpati, ācināti ca taṃ pāpaṃ yena gacchati duggatiṃ.

5377. Tâu vị chúa của trái đất, gánh nặng về tội ác của Alāta còn chưa đầy đủ. Và tùy theo tội ác mà ông ta tích lũy, ông ta sẽ đi đến cảnh giới khổ đau.Tâu phụ vương, hành lý hiện tại của Alàta không phải là những thứ lão ta đang hưởng đâu, chính vì những thứ lão ta đang mang đi chất lên tàu mà lão sẽ đọa vào địa ngục kiếp sau.

5378. Pubbevassa kataṃ puññaṃ alātassa mahīpati, tassesa deva nissando yañceso labhate sukhaṃ.

5378. Tâu vị chúa của trái đất, phước thiện của Alāta có thể đã được làm trong thời quá khứ, cái ấy có được kết quả cho ông ta, tâu bệ hạ, chính là việc ông ta đạt được sự sung sướng (trong thời hiện tại).Đời trước Alàtaka thành chánh nghiệp, nên kết quả là ngày nay lão ta hưởng thụ phú quý vinh hoa.

5379. Khīyatevassa taṃ puññaṃ tathāhi aguṇe rato, ujumaggaṃ avāhāya kummaggamanudhāvati.

5379. Và phước báu ấy của ông ta đang bị cạn kiệt, bởi vì ông ta thích thú trong việc phi công đức như thế ấy. Sau khi bỏ rơi đạo lộ chân chánh, ông ta chạy theo đạo lộ sai trái.

Công đức ấy của lão đang bị tiêu tan vì lão chỉ chuyên tâm làm ác nghiệp, sau khi bỏ chánh đạo, lão ta lại đang theo đuổi tà đạo

5380. Tulā yathā paggahitā ohite tulamaṇḍale, unnameti tulāsīsaṃ bhāre oropite sati.  

5380. Giống như cái cân được giữ yên khi đĩa cân không có vật gì. Đầu cân ngóc lên khi có vật nặng được đặt vào đĩa cân. như chiếc cân được treo đúng đắn trong kho hàng sẽ làm cán cân nhấc lên cao khi có trọng lượng của một vật đặt lên nó.

5381. Evameva naro puññaṃ thokathokampi ācinaṃ, saggātimāno dāsova bījako sātave rato.  

5381. Tương tự y như vậy, con người tích lũy phước thiện từng chút từng chút một. Tựa như gã nô lệ Bījaka có sự chú tâm đến cõi Trời và thích thú về quả báo tốt lành (của thiện nghiệp). Con người chung cuộc cũng làm cho số phận mình thăng hoa nếu biết tu tập công đức dần dần, như gã nô lệ Bìjaka kia đang chuyên tâm làm công hạnh và đang mơ tưởng thiết tha tới đến thiên giới.

5382. Yañcajja bījako dāso dukkhaṃ passati attani, pubbe tassa kataṃ pāpaṃ tameso paṭisevati.  

5382. Và việc hôm nay gã nô lệ Bījaka nhìn thấy sự khổ sở ở bản thân là việc ác của gã đã làm trong thời quá khứ, và giờ đây gã nhận lãnh quả báo ấy. Nỗi khổ đau mà nô lệ Bìjaka phải chịu đựng là do nghiệp quả tội chướng gã đã phạm đời trước.

5383. Khīyate cassa taṃ pāpaṃ tathāhi vinaye rato, kassapañca samāpajja mā hevuppathamāgamā.  

5383. Và việc ác ấy của gã đang được cạn kiệt, bởi vì gã thích thú trong việc rèn luyện như thế ấy. Và sau khi đến với đạo sĩ lõa thể Kassapa, phụ vương chớ có bao giờ đi theo con đường sai trái. Tội chướng ấy sẽ tiêu trừ vì hiện gã đang chuyên tâm làm công đức, tuy nhiênđừng để gã lọt vào tà đạo của lão Ca-diếp kia.

5384. Yaṃ yaṃ hi rāja bhajati sataṃ vā yadi vā asaṃ, sīlavantaṃ visīlaṃ vā vasaṃ tasseva gacchati.  

5384. Bởi vì, tâu bệ hạ, khi hợp tác với người nào, là người tốt hay người xấu, có giới hạnh hay không có giới hạnh, ta sẽ chịu sự ảnh hưởng của chính người ấy.

5. Khi vua quý trọng một thân bằng,
Dù đức hạnh hay kẻ ác gian,
Chuyên tạo ác hành hay thiện nghiệp,
Vua đều chịu ảnh hưởng quyền năng.

5385. Yādisaṃ kurute mittaṃ yādisañcūpasevati, sopi tādisako hoti sahavāso hi tādiso.  

5385. Khi kết bạn với người như thế nào, và thân cận với người như thế nào, ta đây cũng trở thành người như thế ấy; bởi vì sự cộng trú là như thế.

6-7. Bạn nào, vua muốn chọn cho mình,
Như bạn ấy, vua sẽ trở thành,
Uy lực này do tình mật thiết;

5386. Sevamāno sevamānaṃ samphuṭṭho samphusaṃ paraṃ, saro diddho kalāpaṃva alittamupalimpati, upalepabhayā dhīro neva pāpasakhā siyā.  

5386. Người được phục vụ làm ô nhiễm người đang phục vụ mình, người được tiếp xúc làm ô nhiễm người khác đang tiếp xúc với mình, ví như mũi tên tẩm độc làm ô nhiễm túi tên còn chưa bị nhiễm độc. Do nỗi sợ hãi sự ô nhiễm, bậc sáng trí không bao giờ có bạn bè xấu xa.

Kẻ luôn thân cận, bạn đồng hành,
Thường gây ảnh hưởng lên bằng hữu,
Như mũi tên đầu độc đáng kinh,
Làm bẩn vỏ bao trong sạch ấy,
Trí nhân, ác hữu chớ giao tình.

5387. Pūtimacchaṃ kusaggena yo naro upanayhati, kusāpi pūti vāyanti evaṃ bālūpasevanā.

5387. Người nào bao bọc con cá thối bằng ngọn cỏ, các ngọn cỏ cũng toát ra mùi hôi thối; tương tự như vậy, do việc thân cận với những kẻ ngu dốt (sẽ bị tổn hại danh tiếng).

8. Nếu người buộc xác cá hôi ươn,
Với dãi Ku-sa, cỏ cát tường,
Cỏ sẽ có mùi hôi thúi ấy,
Cũng vậy, kết giao kẻ dại cuồng.

5388. Tagarañca palāsena yo naro upanayhati, pattāpi surabhi vāyanti evaṃ dhīrūpasevanā.

5388. Người nào bao bọc gỗ thơm bằng lá cây, các chiếc lá cũng tỏa ra mùi thơm; tương tự như vậy, do việc thân cận với các bậc sáng trí (sẽ đạt được tiếng tốt).

9. Nhưng nếu người ta buộc cỏ hương,
Vào trong một ngọn lá thông thường,
Lá thơm mùi nhẹ nhàng êm dịu,
Cũng vậy, kết giao bậc trí nhân.

5389. Tasmā palapuṭasseva ñatvā sampākamattano, asante nopaseveyya sante seveyya paṇḍito, asanto nirayaṃ nenti santo pāpenti suggatiṃ.

5389. Vì thế, sau khi biết được hậu quả dành cho bản thân tương tự như kết quả của chiếc lá và vật chứa đựng, người sáng suốt không nên hầu cận những kẻ ác nhân, nên thân cận các bậc thiện nhân. Những kẻ ác nhân dẫn lối vào địa ngục, các bậc thiện nhân giúp cho đạt được cảnh giới an vui.

10. Do biết nghiệp ta sẽ thực thành,
Như là giỏ trái chín muồi nhanh,
Trí nhân chẳng bước theo người ác,
Nhưng chỉ bước theo bậc thiện hành.
Kẻ ác đưa ta vào địa ngục,
Người hiền đem bạn đến thiên đình.

5390. Ahampi jātiyo satta sare saṃsaritattano, anāgatāpi satteva yā gamissaṃ ito cutā.

5390. Con cũng nhớ lại việc đã bị luân hồi của bản thân trong bảy kiếp sống. Lìa đời từ nơi này, con đây sẽ đi đến bảy kiếp sống nữa ở thời vị lai.

– Tiện nữ cũng nhớ lại bảy đời trước mà tiện nữ đã trải qua và khi hết đời này tiện nữ lại sẽ trải qua bảy đời khác nữa.

5391. Yā me sā sattamī jāti ahu pubbe janādhipa, kammāraputto magadhesu ahuṃ rājagahe pure.  

5391. Tâu quân vương, vào kiếp sống thứ bảy của con trong thời quá khứ, con đã là con trai người thợ rèn ở thành phố Rājagaha thuộc xứ Magadha. Trong đời thứ bảy, trước kia, tâu phụ vương, tiện nữ là con trai của một thợ rèn trong thành Ràjagaha (Vương Xá) ở xứ Magadha (Ma-kiệt-đà).

5392. Pāpaṃ sahāyaṃ āgamma bahuṃ pāpaṃ kataṃ mayā,
paradārassa heṭhento carimha amarā viya.

5392. Sau khi đi đến với người bạn xấu xa, con đã làm nhiều việc ác. Trong khi xâm phạm vợ của người khác, chúng con đã sống như là những người bất tử. Tiện nữ đã kết giao với bạn ác và đã gây nhiều ác nghiệp. Chúng con cứ mải mê rong chơi, lôi cuốn vợ người khác vào đường tội lỗi như thể chúng con được trường sanh bất tử vậy.

5393. Taṃ kammaṃ nihitaṃ aṭṭhā bhasmacchannova pāvako,
atha aññehi kammehi ajāyiṃ vaṃsabhūmiyaṃ.

5393. Nghiệp ấy đã được tàng trữ và tồn tại, tựa như ngọn lửa bị vùi lấp bởi lớp tro. Rồi do những nghiệp khác, con đã sanh ra tại đất nước Vaṃsa,–Những hành nghiệp ấy cứ âm ỉ như lửa được vùi tro. Nhờ những nghiệp quả tốt khác, con đầu thai vào xứ Vamsa

5394. Kosambiyaṃ seṭṭhikule iddhe phīte mahaddhane,
ekaputto mahārāja niccaṃ sakkatapūjito.

5394. –trong thành Kosambī, ở gia tộc triệu phú, giàu có, phồn thịnh, có tài sản lớn. Tâu đại vương, con là con trai độc nhất, thường xuyên được tôn vinh trân trọng.trong gia đình một phú thương ở Kosambi, rất thế lực và giàu có, phát đạt: Con lại là con trai duy nhất của gia đình, được cưng chiều quý trọng vô cùng.

5395. Tattha mittaṃ asevissaṃ sahāyaṃ sātave rataṃ,
paṇḍitaṃ sutasampannaṃ so maṃ atthe nivesayi.

5395. Tại nơi ấy, con đã thân cận người bạn, người cộng sự thích thú về quả báo tốt lành (của thiện nghiệp), là bậc sáng suốt, thành tựu về kiến thức. Vị ấy đã giúp con an trú vào việc lợi ích. Lúc ấy con kết bạn với một người chuyên làm thiện pháp.

5396. Cātuddasiṃ pañcadasiṃ bahuṃ rattimupāvasiṃ, taṃ kammaṃ nihitaṃ aṭṭhā nidhīva udakantike.

5396. Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, con đã hành trì trai giới nhiều đêm. Nghiệp ấy đã được tàng trữ và tồn tại, tựa như của cải chôn giấu ở trong nước. Con hành trì trai giới suốt các ngày mười bốn và rằm và các hành nghiệp ấy được tồn trữ lại như một kho tàng dưới nước.

5397. Atha pāpānaṃ kammānaṃ yametaṃ magadhe kataṃ, phalaṃ pariyāga taṃ pacchā bhutvā duṭṭhavisaṃ yathā.

5397. Rồi quả báu của những nghiệp ác mà con đã làm ở xứ Magadha sau đó đã xoay vần đến với con, giống như đã ăn vào chất độc dữ dội.

Nhưng những nghiệp quả ác mà con đã tạo ở xứ Ma-kiệt-đà rốt cuộc lại đến với con như một thứ thuốc độc khốc liệt.

5398. Tato cutāhaṃ vedeha roruve niraye ciraṃ, sakammanā apaccissaṃ taṃ saraṃ na sukhaṃ labhe.

5398. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, bởi nghiệp của chính mình, con đã bị nung nấu lâu dài ở địa ngục Roruva. Trong khi nhớ lại việc ấy, con không đạt được sự an lạc (ở tâm). Tâu phụ vương, từ đó con phải trải qua một thời gian dài ở địa ngục Roruva, con phải chịu đựng các nghiệp quả ác ấy, ngày nay nhớ lại con còn thấy thật đau khổ.

5399. Bahuvassagaṇe tattha khepayitvā bahuṃ dukhaṃ,
bheṇṇākaṭe ahuṃ rāja chakalo uddhitapphalo.

5399. Sau khi trải qua nhiều khổ đau ở nơi ấy một thời gian gồm nhiều năm, tâu bệ hạ, con đã là con dê đực bị thiến ở thành Bheṇṇākaṭa.Sau khi chịu khổ sở tại đó không biết bao nhiêu năm trường, con đã hóa sinh thành con dê bị thiến ở thành Bhennàkata.

5400. Sātaputtā mayā vūḷhā piṭṭhiyā ca rathena ca, tassa kammassa nissando paradāragamanassa me.

5400. Con đã chuyên chở những người con trai gia tộc quyền quý bằng lưng và bằng cỗ xe kéo. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.Con phải chuyên chở các thanh niên nhà giàu trên lưng hoặc kéo xe,đó là nghiệp quả của việc con đã quyến rủ vợ người.

5401. Tato cutāhaṃ vedeha kapi āsiṃ brahāvane, nilicchitaphaloyeva yūthapena pagabbhinā, tassa kammassa nissando paradāragamanassa me.

5401. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã là con khi ở khu rừng rộng lớn, có tinh hoàn đã bị con khỉ đầu đàn tàn bạo cắn đứt. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.

11. Khi hết đời kia con được sinh,
Đầu thai làm khỉ chốn rừng xanh,
Hạ căn đứt bởi người gian ác,
Hậu quả do săn đuổi bạn tình.

5402. Tato cutāhaṃ vedeha dasaṇṇesu pasū ahuṃ, nillacchito jave bhadro yoggaṃ vūḷhaṃ ciraṃ mayā, tassa kammassa nissando paradāragamanassa me.

5402. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã là con bò đực ở xứ sở Dasaṇṇa. Bị thiến, nhanh nhẹn, hiền thiện, con đã kéo cỗ xe thời gian dài. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.

Tâu phụ vương, sau đó con đã đầu thai làm con bò đực ở xứ dân Dasannas, lại bị hoạn nhưng cũng nhanh nhẹn và xinh đẹp, con kéo xe một thời gian thật lâu, đó là nghiệp quả của việc săn đuổi theo vợ người của con trước kia.

5403. Tato cutāhaṃ vedeha vajjīsu kulamāgamā, nevitthī na pumā āsiṃ manussatte sudullabhe, tassa kammassa nissando paradāragamanassa me.  

5403. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã đi đến một gia đình danh giá ở xứ Vajjī. Con không phải là người nữ cũng không phải là người nam, khi bản thể con người là việc đạt được vô cùng khó khăn. Kết quả của việc làm ấy là do việc con đã qua lại với vợ của người khác.Khi mạng chung, con đầu thai vào một gia đình xứ Vajji (Bạt-kỳ, ở phía bắc sông Hằng, đối diện xứ Ma-kiệt-đà), song con lại bán nam bán nữ vì thật khó đầu thai làm nam nhân, đó là nghiệp quả của việc con theo đuổi vợ người.

5404. Tato cutāhaṃ vedeha ajāyiṃ nandane vane, bhavane tāvatiṃsāhaṃ accharā kāmavaṇṇinī.

5404. Lìa đời từ nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con đã sanh vào khu rừng Nandana ở cung trời Đạo Lợi. Con là tiên nữ có sắc đẹp theo như ước muốn. Tâu phụ vương, sau đó con đã sinh vào rừng Nandana làm một tiên nữ rất xinh đẹp ở cõi Tam thập tam thiên (trời ba mươi ba)

5405. Vicitta vatthābharaṇā āmuttamaṇikuṇḍalā, kusalā naccagītassa sakkassa paricārikā.

5405. Con có vải vóc và đồ trang sức đủ màu sắc rực rỡ, có các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, thiện xảo về việc múa hát, là thị nữ của Thiên Vương Sakka.xiêm y rực rỡ muôn màu, mang nữ trang ngọc vàng, vòng hoa tay bằng châu báu đủ loại thiện xảo múa ca nên được làm thị nữ ở cung Đế-Thích.

5406. Tattha ṭhitāhaṃ vedeha sarāmi jātiyo imā, anāgatepi satteva yā gamissaṃ ito cutā.

5406. Trong khi tồn tại ở nơi ấy, tâu đức vua xứ Videha, con nhớ lại các kiếp sống này, luôn cả bảy kiếp sống ở thời vị lai mà con sẽ đi đến, sau khi lìa đời từ cõi Trời này. Khi con ở đó, con đã nhớ lại các đời trước và luôn cả bảy đời tương lai mà con sẽ trải qua, sau khi từ giã thiên giới.

5407. Pariyāgatantaṃ kusalaṃ yaṃ me kosambiyaṃ kataṃ,
deve ceva manusse ca sandhāvissaṃ ito cutā.

5407. Thiện pháp mà con đã làm ở xứ Kosambī đã xoay vần đến với con. Lìa đời từ nơi này, con sẽ sanh về cõi Trời và cõi người. Các thiện pháp mà con tạo được ở Kosambì đã đến hồi kết quả, nên khi con hết đời này con sẽ được sinh cùng với chư Thiên hoặc loài người.

5408. Satta jacco mahārāja niccaṃ sakkatapūjitā, thībhāvāpi na muccissaṃ chaṭṭhāni gatiyo imā.

5408. Trong bảy kiếp sống, tâu đại vương, con sẽ thường xuyên được tôn vinh trân trọng. Nhưng con cũng sẽ không thoát ra khỏi bản thể người nữ ở kiếp sống thứ sáu này.Tâu phụ vương, trong bảy đời liền, con sẽ được cung kính phụng thờ, nhưng con sẽ không được thoát thân nữ nhân cho đến hết đời thứ sáu.

5409. Sattamī ca gati deva devaputto mahiddhiko, puma devo bhavissāmi devakāyasmimuttamo.

5409. Và ở cảnh giới tái sanh thứ bảy, tâu bệ hạ, con sẽ là vị Thiên tử có đại thần lực, là vị Thiên nam tối thượng ở tập thể chư Thiên.  

Tâu phụ vương, như vậy trong đời thứ bảy, con sẽ là một Đại nam tử của chư thiên, sau cùng con sẽ được sinh làm một thiên tử với thân tướng nam nhi.

5410. Ajjāpi santānamayaṃ mālaṃ ganthenti nandane, devaputto javo nāma yo me mālaṃ paṭicchati.

5410. Thậm chí hôm nay, sự nối tiếp đã được thực hiện; các tiên nữ ở khu rừng Nandana đang kết tràng hoa, và vị Thiên tử tên Java là người đang tiếp nhận tràng hoa cho con. Hiện nay, chư Thiên đang kết tràng hoa hái từ cây hoa trời ở vườn Thiên lạc Nandana và có một vị Thiên tử tên gọi Java, hiện đang kết tràng hoa cho con.

5411. Muhutto viya so dibbo imāni vassāni soḷasa, rattindivo ca so dibbo mānusiṃ saradosataṃ.

5411. Một phút chốc ấy ở cõi Trời như là mười sáu năm ở nơi này. Và một ngày đêm ấy ở cõi Trời là một trăm mùa thu ở cõi người. Mười sáu năm con sống ở đời thế gian này chỉ là một khoảnh khắc của thiên giới. Một trăm mùa thu ở hạ giới chỉ bằng một ngày một đêm ở trên trời.

5412. Iti kammāni anventi asaṅkheyyāpi jātiyo, kalyāṇaṃ yadi vā pāpaṃ na hi kammaṃ panassati.  

5412. Các nghiệp theo đuổi (chúng ta) như thế dầu cho trải qua các kiếp sống vô số kể, bởi vì nghiệp thiện hay ác không bị tiêu hoại. Như vậy các hành nghiệp của ta cứ theo ta hoài qua vô số đời sống và mang theo thiện quả hay ác quả, không sót một nghiệp nào.

5413. Yo icche puriso hotuṃ jātijātiṃ punappunaṃ, paradāraṃ vivajjeyya dhotapādova kaddamaṃ.  

5413. Kẻ nào muốn trở thành người (nhân loại) liên tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác nên tránh xa vợ của người khác, tựa như kẻ có bàn chân đã được rửa sạch tránh xa vũng lầy. – Kẻ nào muốn thăng hoa đời đời kiếp kiếp, xin hãy tránh xa vợ người như người có đôi bàn chân rửa sạch phải tránh xa vũng bùn.

5414. Yā icche puriso hotuṃ jātijātiṃ punappunaṃ, sāmikaṃ apacāyeyya indaṃva paricārikā.  

5414. Nàng nào muốn trở thành người (nhân loại) liên tiếp từ kiếp sống này sang kiếp sống khác nên tôn kính chồng, tựa như các người hầu gái tôn kính Thiên Vương Inda. Kẻ nào muốn lên cõi trên đời đời kiếp kiếp, xin hãy tôn thờ đức Thế Tôn như chư Thiên phụng thờ Thiên chủ Indra.

5415. Yo icche dibbabhogañca dibbaṃ āyuṃ yasaṃ sukhaṃ,
pāpāni parivajjetvā tividhaṃ dhammamācare.

5415. Kẻ nào muốn của cải Thiên đình, tuổi thọ thuộc cõi Trời, danh tiếng và hạnh phúc, nên tránh xa hẳn các việc ác và nên thực hành ba loại pháp:

Kẻ nào muốn hưởng thiên lạc, hưởng cuộc sống nơi thiên giới với đầy đủ vinh quang hạnh phúc, xin hãy tránh xa tội ác và hành trì Tam Pháp:

5416. Kāyena vācā manasā appamatto vicakkhaṇo, attano hoti atthāya itthī vā yadi vā pumā.  

5416. Là người không xao lãng về thân, về khẩu, về ý, là người khôn ngoan vì lợi ích của bản thân, dầu là người nữ hay là người nam. – Phải hộ phòng và minh triết trong thân, khẩu, ý, tu tập thiện pháp tối cao, dù là nam nhân hay nữ nhân cũng vậy.

5417. Ye kecime manujā jīvaloke yasassino sabbasamantabhogā, asaṃsayaṃ tehi pure suciṇṇaṃ  kammassakāse puthu sabbasattā.  

5417. Bất cứ những người nào ở thế gian của cuộc sống, có danh tiếng, có đầy đủ mọi thứ của cải, chắc chắn trước đây đã thực hành tốt đẹp ba pháp ấy. Tất cả chúng sanh đều có nghiệp riêng của mình.

– Kẻ nào được vinh quang trong đời này và được hưởng đủ mọi dục lạc, chắc chắn kẻ ấy đã sống cuộc đời đạo hạnh ở kiếp trước; mọi chúng sanh đều phải đi theo nghiệp thiện ác của mình.

5418. Iṅghānucintesi sayampi deva kuto nidānā te imā janinda,
yā te imā accharāsannikāsā alaṅkatā kañcanajālachannā.
 

5418. Nào, tâu bệ hạ, xin phụ thân cũng hãy tự mình suy gẫm. Tâu vị chúa của loài người, duyên cớ nào phụ thân có những nữ nhân này? Những nữ nhân này của phụ thân trông giống như các tiên nữ, đã được trang điểm, đã được choàng lên những tấm lưới bằng vàng.”

Tâu phụ vương, phụ vương có bao giờ suy nghĩ hạnh nghiệp gì đã khiến phụ vương thọ hưởng đám cung phi đẹp như tiên trên trời lại trang sức xiêm y ngọc vàng rực rỡ thế kia chăng?

5419. Iccevaṃ pitaraṃ kaññā rujā tosesi aṅgatiṃ, mūḷhassa maggamācikkhi dhammamakkhāsi subbatā.  

5419. Công chúa Rujā, người con gái có sự hành trì tốt đẹp, đã làm vui lòng vua cha Aṅgāti, đã giải thích về đạo lộ, đã nói về thiện pháp cho người cha mê muội như vậy.Công chúa Rujà đã làm đẹp lòng vua cha như thế, nàng tuyên thuyết chánh đạo cho kẻ mê mờ ấy và thành tâm giảng pháp lành cho vua cha.

5420. Athāgamā brahmalokā nārado mānusiṃ pajaṃ, jambudīpaṃ avekkhanto addā rājānamaṅgatiṃ.  

5420. Rồi Bồ Tát Nārada đã từ thế giới Phạm Thiên đi đến dòng giống loài người. Trong lúc xem xét xứ sở Jambudīpa, ngài đã nhìn thấy đức vua Aṅgāti. Lúc ấy Nàrada từ cõi Phạm thiên xuống hạ giới, khi quan sát cõi Jambudìpa (Diêm-phù-đề: Ấn Độ), ngài nhìn thấy vua Angati.

5421. Tato patiṭṭhā pāsāde vedehassa puratthato, tañca disvā anuppattaṃ rujā isimavandatha.  

5421. Sau đó, ngài đã ngự xuống tòa lâu đài, ở phía trước đức vua xứ Videha. Và sau khi nhìn thấy vị ấy đã đi đến, nàng Rujā đã đảnh lễ vị ẩn sĩ.Rồi ngài đến trước cung vua, nàng Rujà vừa trông thấy ngài, vội đảnh lễ bậc hiền trí từ thiên giới giáng trần.

5422. Athāsanamhā oruyha rājā vyamhitamānaso, nāradaṃ paripucchanto idaṃ vacanamabravi.  

5422. Khi ấy, đức vua đã bước xuống từ chỗ ngồi, tâm trí bị kinh sợ. Trong lúc hỏi han vị Nārada, đức vua đã nói lời nói này:

Lúc ấy vua hoang mang trong trí, vội bước xuống ngai vàng, nói với Tôn giả Narada những lời hỏi thăm:

5423. Kuto nu āgacchasi devavaṇṇī obhāsayaṃ saṃvariṃ candimāva, akkhāhi me pucchito nāmagottaṃ kathaṃ taṃ jānanti manussaloke.

5423. “Hỡi vị có sắc đẹp của Thiên nhân, từ đâu ngài đi đến, tựa như mặt trăng, đang chiếu sáng ban đêm? Được hỏi, xin ngài hãy nói cho trẫm biết tên họ. Ở thế giới nhân loại, mọi người nhận biết ngài như thế nào?”12. Ngài đến từ đâu, dáng thánh thần,
Như vầng trăng chiếu sáng đêm trường,
Nói cho ta biết tên, gia tộc,
Người gọi là gì giữa thế nhân?

5424. Ahaṃ hi devato idāni emi obhāsayaṃ saṃvariṃ candimāva, akkhāmi te pucchito nāmagottaṃ jānanti maṃ nārado kassapo ca. 

5424. “Ta đi đến nơi này từ chư Thiên tựa như mặt trăng, đang chiếu sáng ban đêm. Được hỏi, ta nói cho bệ hạ biết tên họ. Mọi người nhận biết ta là Nārada và Kassapa.”

13. Ta đến đây từ hội chúng Thiên,
Như vầng trăng chiếu sáng đêm đen,
Ta nêu danh tánh cùng gia tộc:
Ca-diếp, Nà-ra-da, họ tên.

5425. Acchariyarūpaṃ vata yādisañca vehāsayaṃ gacchasi tiṭṭhasī ca, pucchāmi taṃ nārada etamatthaṃ atha kena vaṇṇena tavāyamiddhi.

5425. “Điều như thế này có vẻ kỳ diệu thật đấy! Là việc ngài đi và đứng ở không trung. Thưa ngài Nārada, trẫm hỏi ngài về sự việc này, vậy bằng cách nào ngài có được thần thông này?”

14. Cách ngài đi đứng diệu kỳ thay,
Ta hỏi ngài: Đâu ý nghĩa đây,
Vì lý do gì ngài thị hiện,
Nà-ra-da hỡi, thần thông này?

5426. Saccañca dhammo ca damo ca cāgo guṇā mamete pakatā purāṇā, teheva dhammehi susevitehi manojavo yenakāmaṃ gamosmi.  

5426. “Chân thật, thiện pháp, sự chế ngự (các giác quan), và thí xả, các đức tính này của ta đã được thực hành trong thời quá khứ. Với chính những pháp ấy đã khéo được rèn luyện, ta di chuyển theo như ước muốn với tốc độ của ý.”

15. Chân thật, công bằng, chế ngự mình,
Rộng lòng bố thí đã lừng danh,
Nhờ công đức thực hành tinh tấn,
Như ý nguyện mình, ta lướt nhanh.

5427. Acchariyamācikkhasi puññasiddhiṃ sace hi ete tvaṃ yathā vadesi, pucchāmi taṃ nārada etamatthaṃ puṭṭho ca me sādhu viyākarohi.  

5427. “Ngài nói việc kỳ diệu là sự thành tựu của phước báu. Nếu thật sự những pháp này là đúng như ngài nói, thưa ngài Nārada, trẫm hỏi ngài về sự việc này. Và được trẫm hỏi, xin ngài hãy trả lời cặn kẽ.”

16. Ngài đã nói điều kỳ diệu thay,
Khi nêu công lực thiện hành vầy;
Nếu điều này đúng như ngài nói,
Xin trả lời cho trẫm thẳng ngay.

5428. Pucchassu maṃ rāja tavesa attho yaṃ saṃsayaṃ kuruse bhūmipāla, ahaṃ taṃ nissaṃsayataṃ gamemi nayehi ñāyehi ca hetubhī ca.  

5428. “Tâu đấng hộ quốc, ngài có sự hoài nghi về bất cứ điều nào, tâu bệ hạ, xin ngài hãy hỏi bần đạo; việc ấy có lợi ích cho bệ hạ. Bần đạo sẽ giúp bệ hạ hết nỗi hoài nghi bằng những lý luận, bằng những lập luận, và bằng những chứng cớ.”

17. Đây việc của ngài, hỡi Đại vương,
Hỏi ta điều cảm thấy nghi nan,
Hiển nhiên ta đáp cho ngài rõ,
Nhờ lý luận, bằng chứng rõ ràng.

5429. Pucchāmi taṃ nārada etamatthaṃ puṭṭho ca me nārada mā musā bhaṇa, atthi nu devā pitaro nu atthi loko paro atthi jano yamāhu.  

5429. “Thưa ngài Nārada, trẫm hỏi ngài về sự việc này. Và được trẫm hỏi, thưa ngài Nārada, ngài chớ nói lời dối trá. Có thật là có chư Thiên, có thật là có tổ tiên, có thật là có đời sau, mà người đời đã nói?”

18. Nà-ra-da, trẫm hỏi điều này,
Đừng trả lời sai câu hỏi đây:
Thật có chư Thiên hay tổ phụ,
Đời sau như bọn chúng đồn vầy?

5430. Attheva devā pitaro ca atthi loko paro atthi jano yamāhu,
kāmesu giddhā ca narā pamūḷhā lokaṃ paraṃ na vidū mohayuttā.

5430. “Thật sự có chư Thiên, có tổ tiên, và có đời sau, mà người đời đã nói. Bị thèm khát các dục, loài người trở nên mê muội, bị gắn liền với sự si mê, chúng không biết về đời sau.”

19. Thật có Thiên thần với tổ tiên,
Đời sau, như chúng vẫn nêu lên,
Nhưng người tham dục và mê đắm,
Không biết đời sau bởi đảo điên.

5431. Atthīti ce nārada saddahāsi nivesanaṃ paraloke matānaṃ, idheva me pañcasatāni dehi dassāmi te paraloke sahassaṃ.

5431. “Thưa ngài Nārada, nếu ngài tin rằng ‘có,’ về chỗ nương náu ở đời sau cho những người đã chết, thì ngay ở tại nơi này, ngài hãy trao cho trẫm năm trăm tiền, trẫm sẽ trao lại cho ngài một ngàn ở đời sống sau.”

20. Nà-ra-da, nếu đã tin rằng:
Có cõi cho người chết trú thân,
Đưa trẫm năm trăm đồng bạc gấp,
Đời sau trẫm sẽ trả ngàn đồng !

5432. Dajjemu kho pañcasatāni bhoto jaññāmu ce sīlavantaṃ vadaññuṃ, luddaṃ taṃ bhontaṃ niraye vasantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5432. “Quả thật chúng tôi có thể trao cho bệ hạ năm trăm tiền, nếu chúng tôi có thể biết được bệ hạ là có giới hạnh, rộng lượng. (Nếu như) bệ hạ là kẻ hung bạo đang sống ở địa ngục, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

21. Ta đưa ngài đủ số năm trăm,
Nếu biết ngài hiền đức, rộng lòng,
Nhưng nếu ngài là người độc ác,
Đọa vào trong địa ngục đày thân,
Còn ai đòi được ngài đem trả,
Đời kế, ngàn đồng ấy được không?

5433. Idheva yo hoti adhammasīlo pāpācāro alaso luddakammo, na paṇḍitā tasmiṃ iṇaṃ dadanti na hi āgamo hoti tathāvidhamhā.

5433. Ngay ở tại nơi này, người nào có bản chất không đàng hoàng, có nết hạnh xấu xa, lười biếng, có hành động tàn bạo, những người sáng suốt không cho kẻ ấy vay nợ, bởi vì không có sự hoàn lại (nợ đã vay) từ hạng người như thế ấy.

22. Khi một người thù ghét thiện lương,
Chỉ yêu tội lỗi lại hung tàn,
Trí nhân chẳng muốn cho vay mượn,
Kẻ nợ ấy không thể đáo hoàn.

5434. Dakkhañca posaṃ manujā viditvā uṭṭhāhakaṃ sīlavantaṃ adaññuṃ, sayameva bhogehi nimantayanti kammaṃ karitvā punamāharesi.  

5434. Và mọi người, sau khi biết được người tài giỏi, năng động, có giới hạnh, rộng lượng, đích thân họ mời mọc bằng của cải, (bởi vì) người ấy sẽ mang trả lại sau khi làm xong công việc.

23. Khi người ta biết kẻ tài năng,
Đức hạnh, tinh chuyên, lại rộng lòng,
Họ sẽ mời người kia mượn của,
Bằng nhiều lợi lạc họ đem dâng;
Khi người kia đã làm xong việc,
Người sẽ bồi hoàn nợ đã mang.

5435. Ito gato dakkhasi tattha rāja kākolasaṅghehipi kaḍḍhamānaṃ, taṃ khajjamānaṃ niraye vasantaṃ kākehi gijjhehi ca seṇakehi, sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5435. Tâu bệ hạ, từ nơi này ra đi, ngài sẽ nhìn thấy ở nơi ấy, bản thân kẻ ấy trong khi sống ở địa ngục, bị lôi kéo bởi bầy quạ đen, bị xâu xé bởi những con quạ, bởi những con chim kên kên, và bởi những con diều hâu, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

24. Đại vương, khi giã biệt đời này,
Ngài sẽ thấy diều quạ cả bầy,
Vồ xé xác ngài trong địa ngục,
Và kên kên nữa máu me đầy,
Còn ai bắt được ngài đời kế,
Đem trả ngàn đồng ấy đã vay?

5436. Andhaṃtamaṃ tattha na candasuriyā nirayo sadā tumulo ghorarūpo, sā neva ratti na divā paññāyati tathāvidhe ko vicare dhanatthiko.

5436. Tại nơi ấy, tối tăm mù mịt, không có mặt trăng và mặt trời, địa ngục luôn luôn tối đen, có dáng vẻ ghê rợn, ban đêm và ban ngày hoàn toàn không được nhận biết, người nào có thể lai vãng ở nơi như thế ấy vì mục đích tài sản?

25. Ở đó tối tăm thật mịt mùng,
Và không vầng nhật hoặc vầng trăng,
Ngục này hỗn độn và kinh khủng,
Chẳng biết ngày đêm, chẳng tháng năm,
Còn kẻ nào mong đòi món nợ,
Ở nơi như vậy nữa hay chăng?

5437. Sabalo ca sāmo ca duve supāṇā pavaddhakāyā balino mahantā, khādanti dantehi ayomayehi ito panuṇṇaṃ paralokapattaṃ.

5437. (Tại nơi ấy,) hai con chó Sabala và Sāma có thân thể đã được phát triển, có sức mạnh, to lớn. Bằng những chiếc răng bằng sắt, chúng nghiến ngấu kẻ đã bị lìa trần từ nơi (cõi người) này đi đến thế giới khác (địa ngục).

26. Con chó Sa-ba dáng khổng lồ,
Cùng Sà-ma lực lưỡng nhào vô,
Dùng răng cắn xé người tan xác,
Kẻ đọa từ đây đến ngục tù.

5438. Taṃ khajjamānaṃ niraye vasantaṃ luddehi vāḷehi aghammigehi ca, saṃchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5438. Kẻ ấy, trong khi sống ở địa ngục, bị ngấu nghiến bởi những con thú hung bạo, dữ tợn, và nguy hiểm, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

27. Vậy khi ở ngục bị tan thân,
Vì thú dữ hành hạ bạo hung,
Thân xác tả tơi, dòng máu chảy,
Còn ai đòi trả nợ ngàn đồng?

5439. Usūhi sattīhi sunissitāhi hananti vijjhanti ca paccamittā, kāḷūpakāḷā nirayamhi ghore pubbe naraṃ dukkatakammakāriṃ.

5439. Bằng những mũi tên, bằng những cây giáo vô cùng bén nhọn, những kẻ đối địch, các Kāḷūpakāḷa (quan canh giữ địa ngục Kāḷūpakāḷa) ở địa ngục ghê rợn, đánh đập và đâm xuyên người đã làm hành động tồi tệ trong thời quá khứ.

28. Với cung tên, nhọn hoắc giáo gươm,
Quỷ sứ Kà-lù tựa địch nhân,
Đâm chém trọng thương người phải đọa,
Trước kia phạm tội ở nhân gian.

5440. Taṃ haññamānaṃ niraye vajantaṃ kucchismiṃ passasmiṃ viphālitūdaraṃ, saṃchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5440. Kẻ ấy, trong khi bị đánh đập, trong khi di chuyển ở địa ngục, có bao tử bị mở toang ở bụng, ở bên hông, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

29. Trong khi kẻ ấy chạy lang thang,
Trong ngục, bị đâm ở bụng, sườn,
Gan ruột nát tan dòng máu chảy,
Ai mong đòi nó một ngàn đồng?

5441. Sattī usū tomarabheṇḍivālā vividhāvudhaṃ vassati tattha devo, patanti aṅgāramivaccimanto silāsanī vassati luddakamme. 

5441. Tại nơi ấy, trời đổ mưa nhiều loại vũ khí: các cây giáo, các mũi tên, các gậy mũi nhọn, các cây chĩa ba. Các loại vũ khí rơi xuống có ngọn lửa tựa như than hừng. Trời đổ mưa các khối đá cháy rực xuống những kẻ đã tạo nghiệp hung bạo.

30. Trời mưa xuống các loại tên, đao,
Các khí cụ hành tội: cọc, lao,
Đám lửa rơi như than cháy bỏng,
Trời mưa đá tảng trút ào ào.

5442. Uṇho ca vāto nirayamhi dussaho na tahiṃ sukhaṃ labbhati ittarampi, taṃ taṃ vidhāvantamalenamāturaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5442. Và có ngọn gió nóng khó chịu ở địa ngục. Thậm chí chút ít sung sướng cũng không được thọ nhận ở nơi ấy. Chính kẻ ấy, trong khi đang chạy tứ tung, không nơi trú ẩn, bị tật bệnh, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

31. Luồng gió nóng ran thật hãi hùng,
Thổi vào trong ngục tối không cùng.
Không vì vui thú dù giây lát,
Nó chạy quanh, không chốn trú thân.
Còn ai muốn bắt người kia trả,
Đời kế ngàn đồng ấy được không?

5443. Sandhāvamānaṃ taṃ rathesu yuttaṃ sajotibhūtaṃ paṭhaviṃ kamantaṃ, patodalaṭṭhīhi sucodiyantaṃ ko codaye pariloke sahassaṃ.

5443. Trong khi kẻ ấy, bị máng vào những cỗ xe, đang phóng chạy, đang bước đi ở mặt đất có trạng thái bốc lửa, đang bị thúc giục bởi những cây gậy nhọn, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

32. Bị buộc vào xe, vội chạy nhanh,
Trên nền đất rực lửa hoành hành,
Biết bao gậy ngắn, dài kiềm thúc,
Ai muốn đòi ngàn bạc cho đành?

5444. Tamāruhantaṃ khurasañcitaṃ giriṃ vibhiṃsanaṃ pajjalitaṃ bhayānakaṃ, sañchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5444. Trong khi kẻ ấy đang trèo lên ngọn núi khủng khiếp được cắm đầy những lưỡi dao cạo, đã bị bốc cháy, tạo ra sự sợ hãi, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

33. Khi trèo leo lên ngọn núi kinh hoàng,
Lởm chởm lưỡi dao, xé nát thân,
Máu chảy đầm đìa, ai sẽ muốn,
Đời sau đòi nó một ngàn chăng?

5445. Tamāruhantaṃ pabbatasannikāsaṃ aṅgārarāsiṃ jalitaṃ bhayānakaṃ, saṃdaḍḍhagattaṃ kapaṇaṃ rudantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.

5445. Trong khi kẻ ấy đang trèo lên đống than hừng tương tự như ngọn núi, bị cháy rực, tạo ra sự sợ hãi, có cơ thể bị thiêu đốt hoàn toàn, khốn khổ, đang khóc lóc, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

34. Khi nó trèo lên một đống than,
Đỏ hừng như núi lửa kinh hoàng,
Toàn thân cháy, thét gào, đau khổ,
Ai muốn đòi ngàn bạc ấy chăng?

5446. Abbhakūṭasamā uccā kaṇṭakāpacitā dumā, ayomayehi tikkhehi naralohitapāyihi.

5446. Có những thân cây cao bằng chóp đỉnh của đám mây, được chồng chất những gai nhọn sắc bén làm bằng sắt, chuyên hút máu người.

35. Lớp gai dày đặc tựa tầng mây,
Có cọc nhọn đâm hút máu ngay,

5447. Tamāruhanti nāriyo narā ca paradāragū, coditā sattihatthehi yamaniddesakārihi.

5447. Bị thúc giục bởi những quỷ sứ thi hành lệnh của Diêm Vương có cây giáo cầm ở tay, những người đàn bà và những người đàn ông đi lại với vợ của người khác trèo lên thân cây ấy.

Những bọn đuổi săn vợ kẻ khác,
Phải trèo lên đó, bị từng bầy,
Quỷ Diêm- la chúa luôn xua đuổi
Mang các giáo dài ở dưới tay.

5448. Tamāruhantaṃ nirayaṃ simbaliṃ ruhiramakkhitaṃ, vidaḍḍhakāyaṃ vitacaṃ āturaṃ gāḷhavedanaṃ.

5448. Trong khi trèo lên cây bông vải ở địa ngục, kẻ ấy bị lấm lem bởi máu, có thân thể bị đốt cháy, da bị lột, bị tật bệnh, có cảm thọ khủng khiếp.36. Khi nó trèo lên cây vải bông,
Toàn thân đầy máu chảy ròng ròng,
Tả tơi thống khổ luôn xâu xé,

5449. Passasantaṃ muhuṃ uṇhaṃ pubbakammāparādhikaṃ, dumaggaviṭapaggahataṃ ko taṃ yāceyya taṃ dhanaṃ.

5449. Trong khi kẻ có tội lỗi ở nghiệp quá khứ liên tiếp thở dài bực bội, có trạng thái bám víu ở chạng ba trên đỉnh ngọn cây, thì người nào có thể đòi hỏi phần tài sản ấy?

Hổn hển thở than thật nực nồng,
Để đền tội ác xưa như vậy;
Ai muốn đòi tiền nợ cũ không?

5450. Abbhakūṭasamā uccā asipattācitā dumā, ayomayehi tikkhehi naralohitapāyihi.  

5450. Có những thân cây cao bằng chóp đỉnh của đám mây, được che phủ với tàng lá cây là những thanh gươm sắc bén làm bằng sắt, chuyên hút máu người.

37. Có những rừng cao tựa đám mây,
Lá rừng là kiếm sắt tràn đầy,
Thiết đao uống máu người đày đọa;

5451. Tamānupattaṃ asipattapādapaṃ asīhi tikkhehi ca chijjamānaṃ, saṃchinnagattaṃ ruhiraṃ savantaṃ ko codaye paraloke sahassaṃ.  

5451. Khi kẻ ấy đến được thân cây có tàng lá là những thanh giươm, trong khi đang bị cắt đứt bởi những thanh gươm sắc bén, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, và máu đang tuôn chảy, thì người nào có thể nhắc nhở kẻ ấy về một ngàn ở đời sống khác?

Khi nó trèo lên đám lá cây,
Thân nó bị cưa bằng kiếm sắt,
Nát tan, máu chảy hãi hùng thay!
Ai mong đòi nó trong đời kế,
Trả nợ ngàn đồng nó đã vay?

5452. Tato nikkhantamattaṃ taṃ asipattanirayā dukhā, sampatitaṃ vetaraṇiṃ ko taṃ yāceyya taṃ dhanaṃ.  

5452. Sau đó, khi vừa thoát ra khỏi nỗi khổ đau từ địa ngục lá gươm, kẻ ấy bị rơi vào dòng sông Vetaraṇī, thì người nào có thể đòi hỏi phần tài sản ấy?

38. Khi nó thoát ra khỏi ngục này,
Phủ đầy lá sắt giữa rừng cây,
Liền rơi vào giữa dòng sông nọ,
Ai muốn đòi tiền nợ cũ đây?

5453. Kharā khārodikā tattā duggā vetaraṇī nadī, ayopokkharasañchannā tikkhapattehi sandati.  

5453. Dòng sông Vetaraṇī thô tháo trôi chảy, với nước có chất kiềm, nóng bỏng, khó vượt qua, được bao phủ bởi những đóa hoa sen bằng sắt có các cánh sen sắc bén.

39. Dòng sông chảy xiết Ve-ta-ran,
Khốc liệt, nước sôi sục ngập tràn,
Bao phủ lá, hoa sen bén nhọn,

5454. Tattha sañchinnagattaṃ taṃ vuyhantaṃ ruhiramakkhitaṃ, vetaraññe anālambe ko taṃ yāceyya taṃ dhanaṃ.

5454. Tại đó, trong khi kẻ ấy, có cơ thể bị hoàn toàn tơi tả, bị lấm lem bởi máu, đang bị cuốn trôi ở dòng sông Vetaraṇī không chỗ bám víu, thì người nào có thể đòi hỏi phần tài sản ấy?”

Trong khi nó bị đuổi trên sông,
Máu me bao phủ, tay chân đứt,
Dòng nước Ve-ta-ran hãi hùng,
Chẳng có một nơi nào trú ẩn,
Ai mong đòi nợ nó hay không?

5455. Vedhāmi rukkho viya chijjamāno disaṃ na jānāmi pamūḷhasaññī, bhayasānutappāmi mahā ca me bhayaṃ sutvāna gāthā tava bhāsitā ise.

5455. “Trẫm run rẩy tựa như thân cây bị chặt đứt. Trẫm không còn biết được phương hướng, sự nhận biết đã bị mê muội. Trẫm ăn năn vì sợ hãi, và trẫm có nỗi sợ hãi lớn lao sau khi lắng nghe những câu kệ đã được ngài nói ra, thưa vị ẩn sĩ.

Thưa bậc Trí giả, trẫm run sợ như cây đang bị đốn ngã, tâm trí hoang mang bối rối, trẫm không biết hướng về đâu, trẫm đang bị dày vò khủng khiếp, nỗi kinh hoàng của trẫm thật gớm ghê khi trẫm nghe ngài ngâm các bài kệ trên đây.

5456. Āditte vārimajjhaṃva dīpaṃvogherivaṇṇave, andhakāreva pajjoto tvaṃ nosi saraṇaṃ ise.

5456. Tựa như (nơi trú ẩn) ở giữa dòng nước vào thời điểm bị đốt nóng, tựa như hòn đảo trong cơn lũ ở biển khơi, tựa như ngọn đèn ở trong đêm tối, ngài là nơi nương nhờ của chúng tôi, thưa vị ẩn sĩ.Như một vật đang cháy được ném vào nước, như một hòn đảo giữa đại dương đầy bão tố, như một ngọn đèn trong đêm tối, ngài chính là nơi an trú của trẫm vậy.

5457. Atthañca dhammañcanusāsa maṃ ise atītamaddhā aparādhitaṃ mayā, ācikkha me nārada suddhimaggaṃ yathā ahaṃ no niraye pateyyaṃ.

5457. Thưa vị ẩn sĩ, ngài hãy chỉ dạy điều lợi ích và thiện pháp cho trẫm. Chắc chắn rằng trong quá khứ, trẫm đã phạm tội lỗi. Thưa ngài Nārada, xin ngài hãy nói với trẫm về đạo lộ trong sạch để cho trẫm có thế không còn rơi vào địa ngục.” Xin bậc trí giả hãy dạy cho trẫm thánh kinh, cùng thâm nghĩa của nó. Quá khứ của trẫm thật là đầy tội lỗi, xin bậc Đại Trí giả Nàrada chỉ dạy cho trẫm con đường rửa sạch tội lỗi để cho trẫm khỏi đọa vào địa ngục.

5458. Yathā ahū dhataraṭṭho vessāmitto aṭṭhako yāmataggi,
usinnaro cāpi sivī ca rājā paricārakā samaṇabrāhmaṇānaṃ.

5458. “Giống như các vị vua Dhataraṭṭha, Vessāmitta, Aṭṭhaka, Yāmataggi, luôn cả Usinnara, và đức vua Sivi đã là những người hầu cận của các Sa-môn và Bà-la-môn.

Các vị vua Dhatarattha, Vessàmitta, Atthaka, Yàmataggi và Usinnara cùng vua Sivi và nhiều vị khác, nhờ chuyên tâm cúng dường các Sa-môn và Bà-la-môn

5459. Ete caññe ca rājāno ye sakkavisayaṃ gatā, adhammaṃ parivajjetvā dhammaṃ cara mahīpati.

5459. Các vị này và những vị vua khác đã đi đến Thiên giới của Chúa Trời Sakka. Tâu vị chúa của trái đất, bệ hạ hãy tránh xa tà pháp và hãy thực hành thiện pháp. nên đã được lên thiên giới của Sakka thiên chủ. Vậy Đại vương cũng phải tránh tà hạnh và theo chánh hạnh.

5460. Annahatthā ca te vyamhe ghosayantu pure tava, ko chāto ko ca tasito ko mālaṃ ko vilepanaṃ, nānārattānaṃ vatthānaṃ ko naggo paridahessati.

5460. Hãy cho người cầm thức ăn ở tay tại cung điện của bệ hạ, và cho người thông báo ở trong thành phố của bệ hạ rằng: ‘Ai đói, ai khát, ai cần tràng hoa, ai cần dầu thoa, trong số các tấm vải vóc nhiều màu sắc khác nhau, ai lõa lồ sẽ (nhận lấy chúng để) mặc vào?’ Hãy cho người mang thực phẩm trên tay rao lên trong cung Đại vương: “Ai đang đói khát đây? Ai đang cần vòng hoa và dầu thơm? Kẻ nào lõa thể mong muốn mặc xiêm y trang hoàng đầy châu báu?

5461. Ko panthe chattamādeti pādukā ca mudū subhā, iti sāyañca pāto ca ghosayantu pure tava.

5461. Ai nhận lấy ô dù và giày dép mềm mại, thanh lịch cho việc đi đường?’ Hãy cho người thông báo như vậy vào buổi sáng và buổi tối ở trong thành phố của bệ hạ.Kẻ nào có muốn lọng che để đi đường và giầy thanh lịch êm chân? Đại vương hãy cho người rao như vậy khắp kinh thành từ sáng đến tối.

5462. Jiṇṇaṃ posaṃ gavāssañca māssu yuñji yathā pure, parihārañca dajjāsi adhikārakato balī.

5462. Chớ giao phó cho người già, cho trâu bò và ngựa đã già yếu công việc giống như trước đây. Bệ hạ nên ban bố sự chăm sóc, bởi vì việc phục vụ (của người ấy, của con thú ấy) đã được hoàn tất khi còn có sức mạnh. Đừng bắt người già hay trâu già, ngựa già phải làm việc nặng nhọc. Đối với các hạng ấy, phải quý trọng đúng mức vì khi họ còn khỏe mạnh, họ đã hoàn thành sứ mạng được giao phó.

5463. Kāyo te rathasaññāto manosārathiko lahu, avihiṃsāsāritakkho saṃvibhāgapaṭicchado.

5463. Thân thể của bệ hạ được xem như là cỗ xe, tâm ý nhẹ nhàng là người đánh xe, sự không hãm hại là trục xe được xoay chuyển, sự san sẻ bố thí là trần xe. Thân của Đại vương được ví như một cỗ xe, đoạn trừ mọi ác tâm chính là trục xe, có lòng bố thí đại lượng là cái trần xe,

5464. Pādasaññamanemiyo hatthasaññamapakkharo, kucchisaññamanabbhanto vācāsaññamakūjano.

5464. Sự kiềm chế bước chân là vành bánh xe, sự kiềm chế bàn tay là khung xe, sự kiềm chế cái bụng (ăn uống có tiết độ) là bên trong ổ trục (có dầu nhớt), sự kiềm chế lời nói là sự không ầm ĩ (của cỗ xe).  bước đi thận trọng là sườn xe, hộ trì dục tâm là chính danh bánh xe, hộ trì khẩu căn chính là giữ cho bánh xe khỏi kêu cọc cạch.

5465. Saccavākyasamattaṅgo apesuññasusaññato, girāsakhilanelaṅgo mitabhāṇisilesito.

5465. Lời nói chân thật là các bộ phận của cỗ xe được đầy đủ, việc không nói đâm thọc là cỗ xe được điều khiển tốt đẹp, lời nói tử tế là các bộ phận của cỗ xe được hoàn hảo, sự nói lời thân thiện là cỗ xe được kết nối chắc chắn.

Mọi bộ phận đều được giữ gìn hoàn hảo nhờ khẩu hành chân thật, gắn liền tốt đẹp với sự từ bỏ nói hai lưỡi, cái sườn xe êm ái với lời nói thân hữu kết hợp hài hòa với ngôn ngữ cân nhắc thật kỹ lưỡng;

5466. Saddhālobhasusaṅkhāro nivātañjalikubbaro, atthaddhatānatīsākho sīlasaṃvaranandhano.

5466. Khéo được kiến tạo với đức tin và đức tánh vô tham, sự khiêm tốn và hành động chắp tay là gọng xe, không ương ngạnh và không luồn cúi là càng xe, sự gìn giữ giới hạnh là sự ràng buộc (cỗ xe được chặt chẽ). xây dựng vững chắc bằng lòng tịnh tín và đoạn trừ tâm tham, với lòng cung kínhđảnh lễ đầy khiêm tốn chính là gọng xe, với càng xe nhẹ nhàng, nhu thuận, với dây cương tựđiều phục thân tâm theo Ngũ giới,

5467. Akkodhanamanugghātī dhammapaṇḍarachattako, bāhusaccamapālambo ṭhitacittamupādhiyo.

5467. Sự không giận dữ là cỗ xe không có sự rung rinh, mười thiện pháp là chiếc lọng che màu trắng, kiến thức rộng là tấm ván tựa lưng, tâm kiên cố là tấm khăn phủ ở chỗ ngồi. cùng với chìa khóa đoạn trừ sân tâm, chiếc gọng xe trắng của lòng công chính,

5468. Kālaññutācittasāro vesārajjatidaṇḍako, nivātavuttiyottako anatimānayugo lahu.

5468. Trạng thái biết được thời điểm là điều cốt yếu của tâm, sự tự tin là cây chống ba chân, thái độ khiêm tốn là sợi dây buộc, sự không ngã mạn thái quá là cái ách được nhẹ bỗng. xe được lái đi nhờ sự thông suốt bốn mùa khác nhau, với ba chiếc gậy bảo vệ lòng tịnh tín bất động, lời nói khiêm tốn chính là chiếc roi da, đoạn trừ hư danh chính là sợi dây cương,

5469. Alīnacittasanthāro vaddhasevirajohato, satipatodo dhīrassa dhiti yogo ca rasmiyo.

5469. Tâm không bị lui sụt là tấm thảm trải, sự tập luyện được tiến bộ (về tuệ) là đã được quét sạch bụi, bậc sáng suốt có niệm là cây gậy thúc, sự kiên trì và gắn bó (vào pháp tu tập) là các sợi dây cương.với sự hỗ trợ của tâm niệm xả ly (không chấp thủ) đi theo chánh trí và giải thoát mọi trần cấu. Hãy dùng trí giác làm động cơ thúc đẩy ngài, hành trì nhất tâm để chế ngự mọi luyến ái;

5470. Mano dantapathatveti samadantehi vāhibhi, icchā lobho ca kummaggo ujumaggo ca saññamo.

5470. Tâm đã được thuần phục đi theo đúng đường lối như là cỗ xe được kéo bởi những con ngựa đã được thuần phục ổn định. Mong muốn và tham lam là con đường sái quấy, sự tự kiềm chế là con đường ngay thẳng. tâm tư theo đúng đạo lộ tự điều phục cùng với mọi tuấn mã đã được huấn luyện thuần phục. Dục vọng và tham đắm đều là tà đạo, tự điều phục là chánh đạo.

5471. Rūpe sadde rase gandhe vāhanassa padhāvato, paññā ākoṭanī rāja tattha attāva sārathi.

5471. Khi cỗ xe đang lao theo các sắc, các thinh, các vị, các hương, trí tuệ là sự trừng trị răn đe. Tâu bệ hạ, trong trường hợp ấy, chính bản thân là người đánh xe. Khi con ngựa chạy theo sắc, thanh, hương, vị, thì trí tuệ phải dùng roi trừng phạt và tâm chính là người lái xe.

5472. Sace etena yānena samacariyā daḷhā dhiti, sabbakāmaduho rāja na jātu nirayaṃ vaje.

5472. Nếu có sự thực hành ổn định, vững chắc, kiên quyết với cỗ xe này, tâu bệ hạ, cỗ xe (thân thể) này đem lại mọi điều ước muốn, chắc chắn không thể đi đến địa ngục.”Nếu ta đồng hành với cỗ xe, nếu trí thanh tịnh và nhất tâm bền vững mãi như thế, ta sẽ đạt mọi nguyện ước, tâu Đại vương, ta không thể nào đọa địa ngục.

5473. Alāto devadattosi sunāmo āsi bhaddaji, vijayo sāriputtosi moggallānosi bījako.

5473. “Devadatta đã là Alāta, vị Bhaddaji đã là Sunāma, vị Sāriputta đã là Vijaya, vị Moggallāna đã là Bījaka.

40. Đề-bà-đạt chính A-là-ta,
Bhad-da-ji chính Su-na-ma,
Vi-ja-ya là Xá-lợi-phất,

5474. Sunakkhatto licchaviputto guṇo āsi acelako, ānando ca rujā āsi yā rājānaṃ pasādayi.

5474. Sunakkhatta, người con trai xứ Licchavi, đã là đạo sĩ lõa thể Guṇa, vị Ānanda đã là công chúa Rujā, cô con gái đã cải hóa vua cha. Su-na-kha, ẩn sĩ Gu-na,
Ru-jà giáo hóa quân vương ấy,
Chính là thị giả A-nan-dà.

5475. Uruvelakassapo rājā pāpadiṭṭhi tadā ahu, mahābrahmā bodhisatto evaṃ dhāretha jātakan ”ti.

5475. Uruvelakassapa khi ấy đã là vị vua có tà kiến xấu xa, và đức Bồ Tát là vị Đại Phạm Thiên. Các ngươi hãy ghi nhớ câu chuyện Bổn Sanh này như vậy.”

41. Bì-ja-ka chính Mục-kiền-liên,
Ca-diếp, vua theo thuyết hão huyền,
Các ông hiểu Bổn sinh như vậy,
Bồ-tát chính là Đại Phạm thiên.

Câu chuyện 544

Mahānāradakassapajātakaṃ sattamaṃ.

Đại Bổn Sanh Nāradakassapa. [544]

Bài viết trích từ cuốn “Kinh Điển Tam Tạng – Tiểu Bộ Bổn Sanh III“, Tỳ-khưu Indacanda Dịch Việt

* Link tải sách ebook: Kinh Điển Tam Tạng – Tiểu Bộ Bổn Sanh III
* Link thư mục ebook: Sách Tỳ-khưu Indacanda
* Link tải app mobile: Ứng Dụng Phật Giáo Theravāda 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *